.comment-block img { max-width: 300px !important; }

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Hán Việt ơi, Hán Việt à

Hán Việt ơi, Hán Việt à
Có vay thì vay cho khéo
Kẻo mà…loạn ngôn!

Hồi xưa đi học, tôi thường được nghe thầy cô khuyên nên học tập cách viết của Bác Hồ. Bác viết giản dị, dễ hiểu, nếu sử dụng được từ thuần Việt thì nên sử dụng, hạn chế tối đa việc sử dụng từ Hán Việt.
Sau nhiều năm chơi đùa với chữ, tôi thấy trong một chừng mực nào đó, Bác Hồ đã đúng. Nhưng một khi xã hội phát triển, ngôn ngữ không thể là một thực thể đứng ngoài sự phát triển của xã hội. Ngôn ngữ cũng phải giao lưu, phải cọ xát, và tất nhiên ta không thể ôm khư khư cái kho từ thuần Việt vốn có. Bác Hồ có thể dùng “các cháu dân quân gái” trong một ngữ cảnh nhất định, nhưng ta không thể vô tư đưa lên các phương tiện truyền thông những cụm từ kiểu bộ đội gái, luật sư gái, nhà văn gái… Tóm lại, từ Hán Việt vẫn chiếm đến 60% ngôn ngữ và ta không thể hạn chế chế sử dụng. Có điều, sử dụng từ Hán Việt như thế nào cho đúng và cho khôn ngoan, tưởng chừng như dễ mà không phải dễ!
Lên mạng, tôi sưu tầm được bài viết này và ôm về đây để phục vụ cho trò chơi với chữ của mình. Bài viết hơi dài, nhưng có nhiều vấn đề thú vị để ta có thể suy ngẫm, đồng ý hoặc phản biện.


Những từ dùng sai trong ngôn ngữ tiếng Việt

1.- Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt.

CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt ví tính từ đứng trước danh từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ chung Hán việt không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy chung cư 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn.

KHẢ NĂNG. “Khả năng” 可 能 là năng lực của con người, có thể làm được việc gì đó. Thế mà người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục và đáng xấu hổ. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng 可 能 (capacité, capable) với khả dĩ 可 以 (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là có thể, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực mà con người mà thôi.

QUÁ TRÌNH. Quá 過 là đã qua, trình 程 là đoạn đường. Quá trình là đọan đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: “Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo câu đại loại thế nầy: “Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi”.Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai.

HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học tiếng Hán, mà lại thích dùng tiếng Hán để tỏ ra “ta đây” nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói “huyền thoại Pelé” “huyền thoại Maradona”.. Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền 玄 là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại 話 là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 càu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chũ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: “Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có trong huyền thoại”. Ông bà mình thường nói: “Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?”

HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ (lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu 昬夫,昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy.

2.- Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt

ĐỘC LẬP Độc 獨 là riêng một mình, Lập 立 là đứng. Vậy theo nghĩa gốc Hán Việt, độc lập là đứng riêng rẻ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ tự chủ để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ.

PHONG KIẾN.封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa.

TIÊU CỰC, TÍCH CỰC 消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc Hán Việt thì sự gán ép như thế là sai. Tich cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu.

3.- Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm).

QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: “Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ”. Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giố mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu, Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật 忌日.Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.

GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.

ĐỆ NHẬT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có` tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố 瀑 布, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.

4.- Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm.

X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng “Phòng X quang” Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi vể kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang 光 có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0,1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chăn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông “đại giáo sư tiến sĩ” nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ “TIA X” như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ “X QUANG” để chứng tỏ ta đây biết “nói chữ” hay sao?

BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phu, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đà được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu.

Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chi, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như : nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam!

NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ” Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao?

TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên song.. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều 強 潮 gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường 潮 強 thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nói con nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng.

HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch 核 là cái hạt, tâm 心 là cái lõi hay cái nhân bên trong . Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là “nhân của hạt” hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi “vỏ hạt” chứ không thể gọi là “hạt vỏ” được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạt mới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm.

TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc 賊có nghĩa là ăn cướp, đạo 盜 mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê. . . Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt 釘 nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là “bọn rải đinh” thì hơn.

Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như:
Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp,
Nhóm trưởng, phải sửa lại trưởng nhóm
Siêu rẻ, phải sửa lại rất rẻ
Siêu bền, phải sửa lại rất bên
Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn
Vân vân…

5.- Dùng từ vô nghĩa

Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là “nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu”. Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hán Hoa liễu 花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép “bịnh hoa liễu” để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu 柳 thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu !!!

ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: “Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy”. Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn.

SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự 故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.

HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: “Cô ây sống hoàn cảnh lắm”. Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói “Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm”!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế đó không ?

ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chức không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được.

XÂY DỰNG. “Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới dó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi.

6.- Dùng sai nghĩa từ thuần Việt.

NGƯỠNG. Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1% thì đường thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mổi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 đô đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên.

KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó :”Thằng A hay kiêu ngạo người khác.” Tôi không giải thích được vì không rõ câu nầy có nghĩa: “thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác”, hay là “thằng A thường chế nhạo người khác”. Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được.

TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: “Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chử tịch”

7.- Dùng từ thiếu chính xác

CHẤT LƯỢNG. Chất 質là cái khối chứa bên trong một vật (matière,) lượng 量là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được ( masse). Thí dụ: “khối lượng hay chất lượng của một vất là 1 kilo gramme”. Thế mà ngày nay người ta dung từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: “Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má cò có hại cho sức khỏe nữa”.

CẢM GIÁC. 感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: “Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm”. Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từ cảm nghĩ. Thí dụ: ‘Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?”. Thực là sai một cách trầm trọng.

THỐNG NHẤT. Thống nhất 統一 là làm biến mất tình trạng chia rẻ bắng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: “Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch”. Nói như vậy là sai.

GIẢI PHÓNG . Giải phóng 解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chi công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng.
ĐĂNG KÝ. Đăng ký 登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày, người ta nói: “Tôi đã đăng ký đi nước ngoài” Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói: ghi danh hay ghi tên mới đúng.

8.- Từ vựng lộn xộn.

LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà.” Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch.

YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: “Tôi yêu cầu anh đi ngay”. Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ.

NGHIÊN CỨU SINH. Sinh 生 là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như “Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc” Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ!

ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng 印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn thượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như “cảnh đó rất ấn tượng”, và cả động từ nữa, như “tôi rất ấn tượng cảnh đó”. Hết sức bậy bạ

THẦN TƯỢNG. 神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như “người đó rất thần tượng”, rồi cả động từ nữa “anh có thần tượng đồng chí đó không?”

TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: “Cần phải báo cáo cho trên rõ” hay “trên bảo, dưới không nghe”.

LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vi nói làm giỏi, học giỏi.

LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay 领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: “Lãnh đạo đã chỉ thị như thế”

Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó.

9.- Cóp tiếng Tàu đang dùng.

LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban 班 là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp, rất hay vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được.

TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: “trong chuyến đi tham vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít” Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu.

Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là đều điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ,大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt.

10.- Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa.

ĐIỂM YẾU Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là cái điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng.

THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là “ở phía bên trên”. Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thi thấp có nghĩa là ẩm ướt.. Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: “giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm” hay “dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm”

11.- Đảo tư kép bừa bãi và không cần thiết.

XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: “…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ….”. Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được.

Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái …..

Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được.

Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay.

Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: “Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt”!!!

12.- Ghép từ bừa bãi.

KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ “kich thích nhu cầu tiêu thụ” được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép “kích cầu”, tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiên ở dưới sông. Cách ghép nấy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay.

GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phài một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn đò cẩn thận: “Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé”. Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không

13.- Dùng từ dao to búa lớn

CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: “nội chiến ở bán đảo Ibérique”. Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa, Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay.

CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: “Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái”. Nghe thực đáng sợ.

NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng “ngài”. Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi.

THAM QUAN. 參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu. Gọi thế mới hách chứ.

NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu.

14.- Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục.

KHẨN TRƯƠNG Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Uc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.

BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: “Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà nội”. Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường.

15.- Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý.

MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao.

LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình.

16.- Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỹ thuật hiện đại.

COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỷ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác.

INFORMATION TECHNOLOGIE dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, tecgnologie là một kỷ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép “tin học” thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt. *ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuất và ngôn ngữ.

(trich TrieuThanh Magazine)

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Nhấn nhá

Bạn đã bao giờ lắng nghe một cuộc trò chuyện nào đó và để ý đến ngữ điệu của người tham gia chưa? Trong một cuộc nói chuyện, bao giờ người ta cũng phải nhấn nhá. Định nghĩa “nhấn nhá” là gì kể cũng khó, chỉ có ở trong cuộc, trực tiếp lắng nghe thì ta mới thấy rõ. Thử nghe hai người yêu nhau nói chuyện. Nếu những lời nói chỉ là những tiếng rù rì với âm vực đều đều đều “anh-yêu-em hơn-mọi-thứ-trên-đời, anh-sẵn-sàng-đánh-đổi-tất-cả-để-có-em, anh-thề-sẽ-đi-cùng-em-đến-bất-cứ-nơi-nào, miễn-là-chúng-mình-được-ở-bên-nhau…” (Xạo đấy! Nhưng bây giờ tôi đang nói đến vấn đề nhấn nhá, nên sẽ gác chuyện “xạo” này lại.)

Nếu nghe những lời như vậy, chắc cô gái sẽ… ngáp và trong bụng chỉ mong sao cuộc trò chuyện này sớm chấm dứt. Tuy nhiên, may sao, đa phần là các cô không ngáp, và bảo đảm là trong mười cô thì có đến chín cô cảm thấy mình hạnh phúc ngất ngây. Đó chính là nhờ các anh đã dùng cách nhấn nhá. “anh yêu em hơn mọi mọi thứ trên đời, anh sẵn sàng đánh đổi tất cả để có em, anh xin thề sẽ đi cùng em đến bất cứ nơi nào, miễn là chúng mình được ở bên nhau…”

Nhấn nhá rõ ràng đã ảnh hưởng đến cảm giác, tình cảm của con người, khiến cho các giác quan của ta được kích thích, các nơ-ron thần kinh hoạt động linh hoạt hơn.

Chắc chắn là bạn đã từng nghe cùng một bài hát do hai ca sĩ thể hiện. So sánh về chất giọng, có khi họ không hơn kém gì nhau, nhưng rõ ràng có một người hát hay hơn. Thử nghe bài Giấc mơ trưa do Thuỳ Chi và Khánh Linh hát nhé! (Bấm vào tên từng ca sĩ để nghe). Cả hai cô cùng sở hữu một chất giọng trong veo, nhưng rõ ràng, có một cô hát “nghề” hơn, nghe “đã” hơn. Một bài khác, Hoạ mi hót trong mưa do ca sĩ Lê Dung và Hồng Nhung hát. Sẽ rất khó để ta đánh giá ai hát hay hơn khi cả hai cô đều là những ca sĩ hàng đầu của âm nhạc nước nhà. Nhưng các bạn thử nghe kỹ mà xem, chỉ có một người hát khiến ta liên tưởng đến giọng thánh thót, đẹp và buồn đến rơi nước mắt của con chim hoạ mi nào đó đã hót trong một ngày đẫm nước mưa.

Chỉ một người thôi nhé, còn người kia có chất giọng tuy hay, nhưng là hay chung chung, hay cho mọi bài hát khác, mọi con chim khác, mọi ngày mưa khác.

Nói xong chuyện ca hát, tôi nói sang chuyện tranh vẽ. Về tranh thì có lẽ sẽ dễ so sánh hơn, vì ta có thể nhìn trực diện. Nhìn hai bài vẽ chì, một bài không nhấn nhá và một bài có nhấn nhá, có lẽ chẳng cần phân tích nhiều, ta cũng thấy rõ ràng có một bài hoàn chỉnh hơn. Ở bài hoàn chỉnh, các mảng, khối được đẩy lên rõ ràng, không gian có chiều sâu, và quan trọng là nhìn vào, ta thấy vẻ đẹp hoàn mỹ của bức tượng, thấy được tình cảm của người vẽ rung lên trên từng nét bút.


Bức tranh màu dưới đây, chắc ai cũng nhận ra là tranh Bùi Xuân Phái. Tôi mạo muội đặt giả thiết, ví dụ ông vẽ bức tranh bên trái thì… có lẽ thật là một sự thất vọng dành cho những người yêu mến tranh của ông. Nhưng may thay, ông đã không vẽ bức tranh bên trái ấy. Ở bức bên phải, màu đỏ rực của chiếc tàu vừa ló ra và hai người chở nhau trên chiếc xe đạp chính là những điểm nhấn của tranh. Nó làm cho góc phố cũ kỹ trở nên sống động, những ngôi nhà mái ngói rêu phong, những bức tường lở vôi bỗng nhiên vang lên âm điệu của chất tình. Quả là tài!


Trên blog này, tôi có quen hai bạn nhà thơ. Tuy làm thơ không phải là nghề chính của các bạn, nhưng tôi trân trọng gọi các bạn là Nhà thơ, vì nhìn những gì mà các bạn làm ra, chỉ có thể gọi như vậy được thôi! J . Thơ của hai bạn này có đặc điểm trái ngược nhau. Một bạn làm những bài thơ giản dị, mộc mạc như “bánh đúc đổ sàng”, còn bạn kia làm thơ có “nét kiêu kỳ nương vạt áo em bay” (Con ai đi lạc qua đây thì tự nhận lại nha! :D ). Muốn ném đá các bạn lâu rồi, nhưng chưa… dám. Hôm nay đánh liều nhặt vài cục đá, ném xong sẽ ba chân bốn cẳng chạy thật nhanh.

Bạn Bánh đúc làm thơ trong trẻo, từ ngữ chân chất, gần gũi, dễ gây thiện cảm cho người đọc. Nhưng thỉnh thoảng tôi phải lên tiếng chê, vì tôi cho rằng một số bài bạn làm, đọc lên thấy nhẹ tênh, dường như thiếu trọng lượng. Đôi lần, bạn tranh luận với tôi rằng câu này tớ thấy có trọng lượng đấy chứ, đây này, ở từ này từ kia, ý nghĩa như thế, sao cậu bảo là thiếu trọng lượng? Tôi suy nghĩ mãi, rồi tìm ra câu trả lời: tôi thấy thiếu trọng lượng có lẽ vì thiếu sự nhấn nhá. Thử đọc một bài của bạn nhé!

Chờ em ngoài đầu ngõ
Hương dạ lan ngọt ngào
Cuối thu trời se lạnh
Bùng cháy niềm khát khao

Trăng hạ tuần đã cao
Anh mong em cồn cào
Hương dạ lan thơm toả
Nụ hôn mình đợi trao.

(Hương dạ lan…)

Tôi tiếc lắm, vì bài thơ này – bạn làm trong lúc ngà ngà say (hình như thế) – bản đầu tiên nghe “phiêu” hơn nhiều. Nhưng khi tỉnh táo, bạn sửa chữa nhiều lần, và cuối cùng nó trôi dập dềnh thế này. Tôi không tìm thấy một điểm nhấn nào để bị cuốn hồn vào đấy.

Giờ, đọc thử một bài khác:

Buộc vào cổ tay anh
Sợi chỉ hồng cổ tích
Nheo mắt... em bảo thích
Ràng buộc anh suốt đời


Có thể chỉ sẽ mục
Gió cuốn đi muôn nơi
Nhưng đã yêu em ơi
Biển trời không ngăn được
Chẳng cần chi định ước
Anh không thể quên đâu
Ta đã đan vào nhau
Vạn sợi màu hạnh phúc

(Buộc chỉ cổ tay)

Thật ra, nếu chỉ đọc cái đoạn 6 câu ở giữa bài, ta sẽ thấy bài thơ thật bình thường, đọc xong, đóng máy tính lại là có thể quên ngay. Nhưng ở đây, bạn đã gia công nhấn nhá – không cần nhiều, chỉ là đôi dòng thôi – nhưng với đôi dòng đó, bài thơ đã có một sức mạnh đủ để níu chân người đọc.
(Ghi chú: Đây là bài tôi chép lại theo trí nhớ sau khi đọc lần đầu tiên. Bạn đã sửa lại vài câu và tôi cảm thấy không được thích như bài gốc.)

Bạn làm nhiều bài nhấn vừa đủ, tôi thích lắm, nhưng với khuôn khổ bài viết này, tôi không thể dẫn chứng được nhiều hơn. Giờ tiếp tục “ném đá” bạn Kiêu kỳ.
Đọc thử một bài gần đây của bạn:
…
Bên lời hẹn xưa
Bỏ lại mình tôi đi về giữa ngọ
Nhặt lại câu thơ
Trong ngày mưa lá đổ
Xin đừng thiếp mắt lá ơi
Đừng ru câu ca xưa trầm tích
Đừng để gió về nương theo tịch mịch
Đợi mưa về nhón kiễng chân cao
Trượt dài qua nách lá
Thế cũng đủ là buồn thôi em ạ!
Đất với trời còn đó những hư hao
Em và mưa cùng cất tiếng rì rào
…
(Mưa)

Ôi trời, cả một rừng nhấn nhá! Đọc bài thơ của bạn, cảm giác của tôi như đi lạc vào một hội chợ nữ trang, thấy món nào cũng lấp lánh, món nào cũng muốn mua. Nhưng rồi tôi hoa mắt và quyết định chẳng mua món nào cả, vì chính tôi cũng không xác định được là món nào thật sự giá trị và mình thật sự thích món nào!

Ném xong một hòn đá rồi, thêm một hòn khác nè:

Này em!
một chút lòng này.
Mời em!
đón nhận dẫu ngày trôi nhanh

Ân tình gió thoảng mong manh
Ta nào dám buộc
một
vành trăng suông.

Mưa cài nỗi nhớ nên buồn
Ta về mở lại ngọn nguồn yêu em

Bóng về tây!
Nhớ về đêm?
Nên người phương ấy
góp thêm nỗi niềm?

Cùng ta
thức trọn một đêm,
để nghe trăng rụng lên thềm quạnh hiu.

Dường như lá đổ muôn chiều...

(Lục bát cho ta)

Không biết bạn đánh giá bài thơ này như thế nào, chứ tôi thì thấy…

...................

…hay lắm, bạn ạ! Bạn nhấn vừa đủ để người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn giữa đất trời, một tình yêu chông chênh và mong manh. Dẫu biết nhân vật “em” chỉ là sương khói, biết là mối tình chẳng đi đến đâu, nhưng còn tình yêu này thì ta vẫn cứ yêu, yêu mãi cho đến khi nào cạn kiệt…

Tôi không có nhiều thời gian để viết blog. Mỗi lần để viết được một bài, tôi lại phải “hy sinh” một vài nhu cầu cá nhân khác. Chính vì vậy, tôi thường viết một số bài bình thường, và chen lẫn giữa những bài bình thường ấy là những bài nhấn nhá. Hehe! Và lỡ chém gió về chuyện nhấn nhá rồi, nên tôi phải nhấn nhá nốt cả cái kết luận cho bài viết này, đó là:

Nếu nhấn nhá vừa phải sẽ tạo nên một hiệu ứng tác động đến thần kinh con người theo chiều hướng tích cực thì vì sao trong cuộc sống hàng ngày chúng ta không chịu khó đầu tư cho nhấn nhá nhỉ? Chiều nay về nhà, tôi sẽ không nấu cơm vì tôi đang nghĩ đến một quán ăn không khí yên tĩnh, món ăn ngon, giá cả vừa phải. Tôi sẽ đãi chồng con bữa tối ở quán ấy để làm một điểm nhấn nhá cho suốt 30 ngày ăn cơm nhà. Ồ, nghĩ đến thôi là thấy nhẹ người (khỏi phải nấu cơm), cả nhà ai cũng phấn khởi. Tèn tén ten!

(Ghi chú: Bài viết thể hiện quan điểm riêng. Xin vui lòng lượng thứ nếu trong bài có những điểm làm bạn không hài lòng!)

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Đồng xanh

Trong mắt tôi, Thầy luôn là một người đàn ông “chuẩn man” với dáng vóc vạm vỡ, khỏe mạnh, cơ bắp chắc nịch. Trông Thầy không giống lắm với vẻ bề ngoài của một anh họa sĩ mà ta thường bắt gặp trong các tác phẩm văn chương cũng như ở ngoài đời. Không “bẩn bẩn, nhếch nhác”, không liêu xiêu, lúc nào cũng ngà ngà say và nói những câu chuyện trên mây, Thầy nói chuyện có duyên, cười rất tươi và cái bắt tay luôn khiến người ta có cảm giác vừa tin cậy vừa thân thiện.

Năm đầu tiên bước chân vào trường Mỹ thuật, tôi được xếp vào lớp do Thầy làm chủ nhiệm. Thầy đòi hỏi khá cao ở những đứa sinh viên năm nhất như chúng tôi. Điều đó làm tôi rất quyết tâm mỗi khi làm bài, vì tôi muốn bài mình phải thật hoàn chỉnh, phải được điểm cao. Mỗi khi vẽ xong, lớp bày bài hàng ngang để Thầy nhận xét và chấm, tôi luôn ngắm nghía tác phẩm của mình, trong lòng đầy tự tin và chắc mẩm bài mình sẽ được Thầy tuyên dương, được đem ra làm mẫu cho các bạn. Và quả thật, bài của tôi thường được điểm cao, vì như Thầy nói thì “những bài như thế này, đối với sinh viên năm nhất, không có gì để chê nữa!”. Tôi nở mặt nở mày, trong lòng hỉ hả mà không mảy may suy ngẫm cho kỹ về lời “khen” của Thầy. Chỉ đến một lần, như mọi lần, tôi nộp một bài vẽ chỉn chu, hoàn hảo và khoanh tay đắc ý đợi Thầy mang bài mình lên đặt ở hàng đầu…

Nhưng, tôi đã bị choáng! Thầy đem bài tôi xuống phía gần chót lớp và “phang” cho tôi một điểm 4 mặn chát. Điểm 4 như cái tát giáng thẳng vào mặt tôi. Tôi giận run, bước ra giữa lớp hỏi Thầy:

- Em không hiểu tại sao bài em lại bị điểm kém? Thầy có thể chỉ ra chỗ sai của em được không?

Thầy nhìn tôi mỉm cười:

- Em vẽ khá, tôi không cố tình hạ thấp em, nhưng tôi phải làm những gì cần làm. Hy vọng một ngày nào đó, nhìn lại bài vẽ này, em sẽ hiểu vì sao tôi cho em điểm thấp.

Điểm 4 thầy dành cho tôi mang một ý nghĩa sâu sắc mà tôi biết trong suốt cuộc đời, mình sẽ chẳng thể nào quên được. Đôi khi, người ta cần phải nhận được những cú hích tích cực. Những cú hích có khi làm người ta đau điếng, thậm chí ngã sóng soài, nhưng nếu không có nó, người ta có thể dễ ngủ quên trong sự tự hài lòng, mãn nguyện với những sản phẩm “đèm đẹp” - không mang một dấu ấn riêng nào -  của mình.

Khi ra trường, Thầy gặp tôi với tư cách một đồng nghiệp và gợi lại câu chuyện xưa. Tất nhiên là tôi nhớ từng chi tiết một. Tôi cám ơn Thầy. Cả Thấy và tôi cùng tôi cười xòa, và đó là lần duy nhất chúng tôi nhắc đến điểm 4 ấy.

Là đồng nghiệp, đôi lần chúng tôi đi nhậu với nhau. Thầy không cho tôi gọi Thầy bằng Thầy nữa.

– Ngoắc tay nhé – Thầy bảo – Từ giờ bình đẳng, không đứa nào là Thầy là Trò gì hết. Gọi tớ bằng Anh cho khỏe. Đi nhậu mà cứ thầy thầy trò trò, nhậu cái quái nào được!

Khi cuộc nhậu đã đến hồi “nóng” lên vui vẻ, Thầy thường cao hứng hát. Thầy có tố chất của một ca sĩ với chất giọng ấm và âm vực vô cùng rộng. Bài tủ của Thầy là bài Đồng xanh:

“Đồng xanh là chốn đây, thiên đường cỏ cây
Là nơi bầy thú hoang đang vui đùa trong nắng say
Đây, những dòng suối vắng im phơi mình bên lùm cây
Đây những dòng nước mát khẽ vươn tay về thung lũng
Và những đôi nhân tình đang thả hồn dưới mây chiều.
Ta yêu đồng xanh như đã thương yêu con người
Ta yêu đôi tình nhân kia, như gió thương yêu mây tr
ời …”

Thầy hát “phiêu” như những bức tranh Thầy vẽ. Chúng tôi thì phiêu theo giọng hát của Thầy. Những lúc ngà ngà như vậy, chúng tôi thấy cuộc đời là những bức tranh còn thơm mùi sơn dầu mới vẽ, còn ướt đẫm những mảng màu tươi rói của những cánh đồng ngát hương Tình yêu. Chỉ thế thôi, đủ để thấy cuộc đời này đáng sống lắm rồi.

Mấy tháng trước, tôi nghe nói Thầy bị bệnh nặng, nhưng lên Facebook vẫn thấy Thầy cười tươi như chưa từng mang một căn bệnh hiểm nghèo nào. Nụ cười dường như vẫn trẻ hơn nhiều so với tuổi năm mươi đời cuối của Thầy.

Cách đây mấy ngày, nhân dịp 20/11, tôi ghé nhà thăm Thầy. Người nhà Thầy ra tiếp, bảo rằng mấy hôm nay Thầy mệt, giờ đang ngủ nên không ra được. Tôi đành ra về mà không gặp Thầy.

Trưa nay, nghe bạn bè nhắn tin, nói Thầy vừa mất.

Tôi choáng váng thẫn thờ, chẳng làm việc được nữa. Bên tai tôi giờ đây chỉ còn văng vẳng giọng hát của Thầy:

“Ta yêu đồng xanh như đã thương yêu con người
Ta yêu đôi tình nhân kia, như gió thương yêu mây tr
ời …”

Vĩnh biệt Thầy! Có một vầng mây trắng vừa bay lướt qua Đồng xanh, nơi mà những mảng màu lúc nào cũng ánh lên sắc lóng lánh của Tình yêu dành cho cuộc đời này.

26.11.2013


Bài viết liên quan: Những người thầy của tôi

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Nếu...

Đôi lúc mình cứ lan man tự hỏi những câu ngớ ngẩn kiểu:

- Nếu sáng nay mình ra ngoài đường không đi hướng này mà đi về hướng khác thì liệu ngày hôm nay có khác?

- Nếu ngày hôm nay mình gặp người này mà không gặp người kia thì liệu ngày mai có khác?

- Nếu ngày mai mình không làm việc này mà làm việc nọ thì tương lai mình có khác?

- Nếu đáng lẽ mình phải thi đậu vào trường này để làm việc ở công ty này, nhưng mình lại thi không đậu, hoặc thi đậu ở trường khác để rồi làm việc ở một công ty khác thì liệu cuộc đời mình có khác?

Haiz…! Hình như chuyện này bên đạo Phật gọi là CÁI DUYÊN. Khổ nỗi mình không rành về triết học Phật giáo nên câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ. Bạn blog của mình chắc là nhiều người nghiên cứu đạo Phật, lại cũng có người không nghiên cứu đạo Phật, nhưng thích suy tư kiểu triết học, nên mình hy vọng sẽ nhận được một số lời chia sẻ cho câu hỏi của mình.

Và, hôm nay nhân tiện lan man, post lên đây một số tranh của trùm phát xít Hitler. Mình thực sự ngỡ ngàng khi xem những bức tranh này. Khả năng về hình họa, màu sắc, bố cục của Hitler rất đáng để một trường Mỹ thuật danh tiếng nhận vào làm sinh viên. Và rất có thể ông ta sẽ trở thành một sinh viên giỏi. Nhưng không hiểu sao, Hoc viện Nghệ thuật Vienna đã 2 lần đánh rớt Hitler?

Hix! Và thế là... 

... có chiến tranh thế giới, có thảm sát người Do Thái, có nỗi đau thương đổ lên đầu hàng triệu con người, có máu chảy đẫm ướt cả một trang lịch sử nhân loại...

(Ghi chú: Viết những dòng này trong lúc cơ quan đang tưng bừng kỷ niệm Ngày Nhà giáo. Viết thế thôi, không có ý gì với các Thầy Cô đâu ạ! :D)

Một số bức tranh do Hitler vẽ:


d

Bức tranh màu nước "Ngôi nhà với cây cầu bên dòng sông" vẽ năm 1910 của Adolf Hitler, một họa sĩ sống chật vật ở Vienna, Áo. Ảnh: DPA.

d
Hitler làm họa sĩ vài năm ở Áo, trước khi tham gia quân đội trong Thế chiến 1. Ảnh: DPA.

d
Bức họa Shot Mill - năm 1910. Ảnh: DPA.

d
Bức họa "Berglandschauft mi See" năm 1913. Ảnh: AP.

d
Nhà thờ Karlskirche ở Vienna. Mặc dù không ai biết Hitler có tất cả bao nhiêu tác phẩm, hiện còn 723 bức vẽ được cất giữ. Ảnh: AP.

d
Bức họa thể hiện tòa nhà cổ La Rotonde ở Vienna, được sử dụng như khu triển lãm quốc tế vào cuối thế kỷ 19. Ảnh: Getty.
d
Bức họa Farmstead. Ảnh: Getty.
d
Tranh nước về cặp tình nhân chèo thuyền trên hồ vẽ đầu những năm 1900. Ảnh:Getty.
d
Bức họa về một kho thóc ở Áo, đầu những năm 1900. Ảnh: Getty.
d
Bức tranh nước phong cảnh đầu những năm 1900. Ảnh: Getty.
d
Bức họa về một tòa nhà cổ kính ở Áo. Ảnh: Getty.
d
Cây cầu Hero và nhà thờ Karl, Vienna. Ảnh: Getty.
d
Bức họa miêu tả một khu phố cổ ở Vienna. Ảnh: Getty.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Thơ "dở"

Nè các bạn yêu văn thơ trên Blogspot!
Đọc bài của tôi mãi, chắc các bạn cũng chán như các anh giai hàng ngày phải ăn mãi một món cơm.
Biết các bạn chán, nên hôm nay tôi đem phở về cho các bạn ăn đổi món. Chúc các bạn ngon miệng!


Thơ “dở”

Hermann Hesse

Hermann Hesse (1877 - 1962)

Tôi có cảm giác một trong số những bài thơ “dở” này lại không dở chút nào, nó mang một thứ mùi hương trong mình, chính những điểm yếu, những khiếm khuyết lồ lộ của nó lại gây ấn tượng, độc đáo, thân mật và duyên dáng; và tôi nhận ra một tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ từng có thời làm mê hoặc lòng người giờ đã trở nên nhợt nhạt và xơ cứng.

Tôi nhớ hồi khoảng 10 tuổi, có một lần ở trường, chúng tôi được đọc một bài thơ mà nhan đề của nó, nếu tôi nhớ đúng, là “Cậu con trai nhỏ bé của Speckbacher”. Bài thơ kể về một cậu bé quả cảm, người đã tham gia vào một trận chiến đấu, xông pha giữa cơn mưa đạn để nhặt đạn dược về cho nghĩa quân và trở thành một anh hùng nổi tiếng. Cả lớp chúng tôi ai cũng hào hứng với bài thơ và khi thầy giáo hỏi chúng tôi một cách hơi châm biếm: “Các trò nghĩ đây là một bài thơ hay sao?”, chúng tôi đều gào lên phấn khích: “Dạ, đúng ạ!” Nhưng ông thầy lại lắc đầu, mỉm cười và nói: “Không, đó là một bài thơ dở.” Thầy tôi đã đúng, theo một cách nào đó. Theo những quy phạm và thị hiếu của thời đại, đây không phải là bài thơ hay. Nó thiếu sự chân thực, tinh tế, nó thiếu sự tự nhiên, nó là một tác phẩm có phần thô sơ. Song bài thơ lại đem lại cho những cậu bé chúng tôi những rúng động mãnh liệt.

Mười năm sau, khi tôi chừng 20 tuổi, tôi có thể đọc bất kỳ bài thơ nào trên thế giới và tự quyết định nó là bài thơ hay hay dở. Đó là việc đơn giản nhất trên đời. Tất cả những gì người ta cần làm là liếc vào trang sách, đọc mấy dòng thơ rõ tiếng một chút - vậy là xong việc.

Một phần ba thập niên nữa lại tiếp tục trôi qua, số bài thơ tôi đã đọc lên đến hàng trăm và một lần nữa tôi lại ở trong tình thế không phán quyết được một bài thơ cụ thể nào đó là hay hay dở. Giờ đây tôi nhận được rất nhiều bài thơ, phần lớn được viết bởi những người còn trẻ, họ muốn tôi cho biết những bài thơ của họ hay hay dở và giúp cho họ được các nhà xuất bản nhận lời in. Và các nhà thơ trẻ bao giờ cũng ngạc nhiên và thất vọng khi nhận thấy nhà thơ già Hesse, người được xem là đã học hỏi bằng kinh nghiệm, lại chẳng đúc kết được gì từ kinh nghiệm của mình mà chỉ lật qua từng trang bản thảo như một động thái vô nghĩa, ông ta còn chẳng đủ can đảm để phán quyết xem những bài thơ của họ là xuất sắc hay vô giá trị. Điều mà ở tuổi 20 tôi có thể làm được hoàn toàn tự tin chỉ trong hai phút giờ lại là việc khó khăn đối với tôi. Có lẽ tôi không nên nói đó là việc khó, mà phải nói đó là việc bất khả. (Thứ mà chúng ta gọi là “kinh nghiệm” là một vấn đề gây bối rối. Khi ta còn trẻ, ta mặc nhiên xem nó là thứ đến một cách tự động. Song vấn đề không giản đơn như thế. Có những người có khả năng đạt đến sự thấu suốt từ kinh nghiệm; họ có kinh nghiệm từ khi là học trò; họ sinh ra đã có tư chất của một kẻ nhiều kinh nghiệm – và có những người khác, trong đó có cả tôi, những người có thể 40 hay 60 tuổi, thậm chí sống đến trăm tuổi nhưng rốt cục lại trở về cát bụi mà chẳng hề học được hay hiểu được cái thứ “kinh nghiệm” này là gì).

Sự tự tin tôi có khi đánh giá các bài thơ lúc mình 20 tuổi có duyên do thực tế: tôi dành tình cảm mãnh liệt và đặc quyền cho một số bài thơ, một số nhà thơ đến độ ngay lập tức, một cách rất bản năng, tôi so sánh mọi bài thơ, nhà thơ khác với những bài thơ ấy, những nhà thơ ấy. Nếu một bài thơ nào đó giống với những bài thơ trong nhóm yêu thích của tôi, đấy là bài thơ hay. Còn ngược lại, tôi sẽ không thấy nó có phẩm chất đáng kể nào.

Vẫn có một số thi sĩ mà tôi đặc biệt yêu quý, một số người trong đó là những thi sĩ mà tôi đã mến mộ từ hồi mình 20 tuổi. Nhưng giờ đây, dường như tôi lại có phần ngờ vực hơn những bài thơ có vẻ giống như tác phẩm của những nhà thơ ngày trước mình yêu thích.

Lúc này tôi không định bàn về các nhà thơ và thơ ca nói chung; tôi chỉ muốn nói đôi lời về thứ thơ “dở” – tức là về những bài thơ mà hầu như bất cứ ai, ngoài trừ chính nhà thơ, sẽ xếp chúng ngay vào cùng với những thứ văn vẻ tầm thường, vớ vẩn, những lối viết trước đó không ai viết thế.

Nhưng quả thật giờ đây, tôi lại thường xuyên cảm thấy một bài thơ mà mọi người đều cho là dở lại đem đến cho tôi những khoái cảm thực sự, tôi dường như có xu hướng chấp nhận nó, thậm chí ca ngợi nó, trong khi đó những bài thơ hay, kể cả những bài thơ hay nhất, lại thường không rung lên trong tôi một âm vang đáp lại nào. Tôi có cảm giác một trong số những bài thơ “dở” này lại không dở chút nào, nó mang một thứ mùi hương trong mình, chính những điểm yếu, những khiếm khuyết lồ lộ của nó lại gây ấn tượng, độc đáo, thân mật và duyên dáng; và tôi nhận ra một tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ từng có thời làm mê hoặc lòng người giờ đã trở nên nhợt nhạt và xơ cứng.

Tôi có thể thấy nhiều nhà thơ trẻ của chúng ta cũng có kinh nghiệm tương tự. Về nguyên tắc, họ đã tránh viết những bài thơ “hay”. Khi một nhà thơ trẻ trong số này bỗng dưng hoài niệm quá khứ - Werfel là một thí dụ - anh ta bỗng quên đi bản ngã của mình và bắt đầu dàn trải những lời thơ hoa mỹ theo phong cách cổ điển xưa cũ thì chính điều ấy lại đem đến cho độc giả của nhà thơ một cảm giác khó chịu rất lạ. Những nhà thơ còn rất trẻ  của chúng ta, những người chưa bao giờ bị cuốn vào những lỗi lầm như thế, đã đi đến kết luận rằng: thế gian này đã có đủ những bài thơ đẹp, rằng họ không được sinh ra và được đặt trên hành tinh này chỉ để tạo ra mấy dòng thơ xinh xẻo hơn, để tiếp tục trò chơi kiên nhẫn mà cha ông của họ đã bắt đầu. Họ hoàn toàn đúng và những bài thơ của họ thường có sức hấp dẫn, sự hưng phấn giống như những gì tôi nhận thấy từ những bài thơ “dở” mà tôi đã nói đến.

Và lý do chẳng phải tìm ở đâu xa. Thoạt đầu, một bài thơ là một thứ gì đó rất đơn giản và bộc phát. Nó là một sự thoát ra, một tiếng gọi, một tiếng gào, một hơi thở dài, một chuyển động, nhờ đó, tâm hồn tìm được sự giải tỏa hoặc nhận ra một xung lực thúc đẩy. Ở chức năng đầu tiên, nguyên thủy, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này, chẳng ai có quyền phê phán một bài thơ. Thứ cảm hứng đó chẳng nói với ai khác ngoài chính bản thân nhà thơ: đó là tiếng khóc, là sự mộng mơ, là động thái mang tính bản năng của nhà thơ. Đôi khi bài thơ dường như không chỉ thỏa mãn sự giải phóng cảm xúc của nhà thơ. Một số bài thơ còn kích thích, truyền cảm hứng đến những người bên cạnh nhà thơ. Những bài thơ ấy là những bài thơ hay. Có lẽ điều này xảy ra khi nhà thơ biểu đạt được một điều gì đó chung cho cả loài người, điều cũng có thể đến với những người khác. Song tôi không chắc lắm.

Chính tại đây, chúng ta bị mắc kẹt trong một cái vòng luẩn quẩn không may. Vì những bài thơ “đẹp” khiến tác giả nổi tiếng nên sẽ có rất nhiều những bài thơ khác được viết ra với một tham vọng không gì khác hơn là trở nên “đẹp”, tác giả của chúng không có ý niệm gì về tính sáng tạo, vẻ ban sơ, sự hồn nhiên mà thiêng liêng của bài thơ. Những bài thơ ấy không còn là những giấc mơ hay tiếng khóc của một tâm hồn, sự bùng vỡ của nỗi đau hay niềm hoan lạc, những hình ảnh của những ước muốn thầm thì hay những công thức thần bí, những động thái của một nhà hiền triết hay điệu bộ của một gã điên – không, chúng chỉ còn là miếng thịt thơm ngon dành cho khách hàng là công chúng. Chúng được viết ra để thu về lời lãi từ việc cung cấp cho công chúng sự vui thích, sự chỉ dẫn hay những cái gì khác nữa mà công chúng thèm khát. Và những bài thơ như thế thường được hoan nghênh đón nhận. Nhưng có những ngày mà thế giới đúng đắn kia trở nên nhàm chán quá đỗi đối với tôi, khi tôi muốn phá cũi xổ lồng, muốn đốt đền, tôi mới phát hiện được rằng tất cả những bài thơ “đẹp”, thậm chí kể cả những điển phạm thiêng liêng, đều như thể đã từng bị kiểm duyệt, bị thiến hoạn, chúng trở nên ba phải, nhạt nhẽo, héo hắt như một bà cô già. Vào những ngày ấy, tôi thích những bài thơ dở hơn. Càng tệ bao nhiêu, chúng lại càng làm tôi vui thú bấy nhiêu.

Nhưng chẳng bao lâu sẽ đến cái ngày mà những bài thơ dở cũng trở nên đơn điệu. Việc đọc những bài thơ dở chỉ là một khoái cảm lướt qua. Và sau cùng, đọc những bài thơ dở thì có gì tốt? Tại sao bạn không tự viết những bài thơ dở? Làm việc đó đi, độc giả, và cả bạn nữa sẽ nhận ra việc sáng tác những bài thơ dở là một khoái thú hấp dẫn hơn nhiều so với việc đọc những bài thơ đẹp nhất từng được viết nên.


        Hải Ngọc dịch

Nguồn: Hermann Hesse, “Bad Poetry”, bản Anh ngữ của Roy Temple House, Poetry, Vol.70, No.4 (Jul., 1947), p.202-5.

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Chém gió với các anh giai về CHUYỆN NGOẠI TÌNH

Bắt đầu từ câu chuyện một hôm, anh về nhà, mặt mày bơ phờ, mệt mỏi. Hỏi ra mới biết anh bị vợ của một người bạn thân “tra tấn”. Chuyện “tra tấn” này xuất phát từ chỗ chị ấy nghi chồng mình ngoại tình, còn ông bạn thân thì biết, nhưng giấu nhẹm. Chị đã thuê người theo dõi chồng suốt một tuần lễ, nắm được lộ trình của chồng, cho nên chị không thể tin được khi một người bạn thân, làm việc cùng công ty với chồng mà lại không biết anh ta có bồ.

Em hỏi: “Chị ấy tra hỏi những gì?”. Anh trả lời: “Quanh đi quẩn lại chỉ có mỗi một việc là chị không tin chồng, từ đó không tin bạn chồng, và túm lại là không tin hết thảy đàn ông. Nhưng thay vì đem chồng về nhà dạy thì chị ấy trút hết lên đầu bạn chồng.” Em cười he he, bảo: Sao mà chồng mình có phước thế. Cụ thể là em sẽ không bao giờ kiểm tra túi, kiểm tra điện thoại, lục lọi máy tính của anh, không bao giờ thuê người theo dõi, không bao giờ tìm đến bạn của chồng để kể lể hay tra hỏi.

Chồng tỏ vẻ nghi ngờ: “Thật không đó? Anh chưa thấy em ghen bao giờ, nhưng nếu ghen chắc em nghĩ ra nhiều chiêu khiếp đảm lắm!”

Oài, đó là do anh tưởng tượng thôi. Ghen tuông như thể việc cầm dao tự cứa vào mình, người đau đớn trước tiên không phải ai khác mà chính là ta. Nhưng muốn tránh được chuyện ghen tuông thì phải “quán triệt” chuyện ngoại tình  trước đã!

Mình bỏ qua cái định nghĩa về ngoại tình đi nhé, vì chắc ai cũng biết rồi. Giờ mình sẽ phân tích – thật ngắn gọn thôi – nguyên nhân, bản chất, kết quả và góc nhìn xã hội về vấn đề này.

1. Nguyên nhân ngoại tình:

Với các anh, có vô vàn lý do chính đáng để các anh bỏ vợ ở nhà, tìm đến những người phụ nữ khác. Ngày xưa, lúc yêu các chị, anh thấy các chị má đỏ, môi hồng, mắt long lanh, eo thon, quần này áo nọ thướt tha, luôn nở nụ cười và nói những lời có cánh. Giờ, mang các chị về nhà, bỗng dưng các chị biến thành người khác: má đỏ - đôi khi - vì dị ứng mỹ phẩm, môi cong lên vì chì chiết chồng con, mắt long sòng sọc, eo nở gấp đôi, quần áo cũ nhàu, luôn nhăn nhó và nói những lời có… lông vũ. Thay vì nói chuyện chính trị xã hội, văn hoá thể thao và xem những bộ phim mùi mẫn với anh thì các chị lại cắm đầu vào lau lau chùi chùi, giặt giặt giũ giũ, vừa làm vừa cảu nhảu càu nhàu… Vậy thì cớ gì các anh cứ phải ở nhà để chịu đựng từng đó thứ, và thế là… tèn tén ten!

Rồi khi các chị biết chuyện, các chị khóc lóc, gọi điện thoại tư vấn hôn nhân gia đình, viết thư nhỏ to tâm sự với chị Hạnh Dung thì luôn được nghe lời khuyên: “Em hãy về nhà, tự xem lại mình đi!”. OK, các chị về nhà, điểm phấn tô son lại / ngạo với nhân gian một nụ cười, tưởng là từ nay sẽ được hỏi vì sao môi anh nóng / vì sao tay anh lạnh / vì sao thân anh run, sẽ được các anh vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc và sẽ biến cuộc đời thành những tối tân hôn…, nhưng hỡi ôi, các anh vẫn cứ tìm đến những con đường có lá me bay thay vì ở nhà và chết chìm trong đôi mắt Pleiku biển hồ đầy của các chị.

Vì sao vậy? Vì quỹ thời gian chỉ có từng đó. Nếu các chị bỏ thời gian ra làm đẹp thì đâu còn thời gian để dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ, cũng đâu kịp đầu tư để nấu bữa ăn cho ngon lành. Quần áo của các chị đẹp hơn thì quần áo các anh phải nhàu đi một chút. Sau bữa cơm, các chị ngồi nói chuyện với các anh thì tiếp đó các anh sẽ phải cho chó ăn, đổ rác… Làm sao các anh có thể chịu đựng được từng đó chuyện, và thế là lại… tèn tén ten!

Túm lại là kiểu gì thì các anh cũng có lý do để ngoại tình.

2. Bản chất của ngoại tình

Ta có một mệnh đề đầu tiên: Cái gì dùng lâu rồi cũng cũ, cái gì quen quá rồi thì cũng đến lúc chán. Từ mệnh đề đó, nảy sinh mệnh đề tiếp theo: Cái gì vừa có được thì luôn mới, cái mới thì luôn làm người ta thích hơn cái cũ. Hai mệnh đề này không hẳn chính xác tuyệt đối, nhưng ít ra là đúng trong đa số trường hợp, thậm chí còn có thể coi đó là quy luật. Vậy, nếu chúng ta đòi hỏi hôn nhân phải nằm ngoài quy luật thì liệu ta có lý không? Nếu quá chán một thứ gì đó, có chắc là ta vẫn chỉ khư khư muốn dùng nó mà không bao giờ mơ tưởng đến một thứ khác mới mẻ hơn?

Vậy, bản chất của ngoại tình là tìm đến và hưởng thụ thứ mới mẻ hơn.

Nhân đây, em cũng muốn nói rộng ra, ví von tí, cho hai cái mệnh đề của em nó… tươi mát hơn. Chẳng hạn, ta có một khoảnh đất để trồng hoa (hoa hồng đi, cho nó… lãng mạn!). Đất tốt thì hoa mọc tốt, nhưng cũng có thể vì đất tốt nên có thêm vài loài cỏ hoang và hoa dại cùng mọc trên mảnh vườn đó, cứ nhổ xong nó lại mọc! Nhìn mặt tiêu cực thì… bực mình quá, nhưng nhìn mặt tích cực thì… đất mình tốt đấy chứ! Chả dại gì mà đổ hoá chất vào cho đất chết đi, chết cả hoa hồng thì tội. Thôi thì ta kệ nó đi, mọc thì nhổ, mình vun trồng cho hoa hồng của mình, người ta ngắm là ngắm hoa hồng chứ ngắm gì mấy cái hoa cỏ dại.

Tâm hồn các anh như mảnh đất trồng hoa. Em ví von như vậy đấy, các anh sướng chưa! Nhưng nên nhớ là khi em chăm sóc hoa hồng, có thể em giẫm nát hoa dại, chả phải là cố ý đâu nhé!

3. Kết quả của ngoại tình

Ngoại tình làm cho các anh thăng hoa, tâm hồn bay bổng. Anh vai u thịt bắp thì khoẻ mạnh, sung mãn hơn, anh nghệ sĩ thì sáng tác nhạc, làm thơ, vẽ tranh nhiều hơn. Mặt khác, sau khi ngoại tình, các anh thường có tâm lý có lỗi với vợ, nên về nhà các anh sẽ tìm cách bù đắp cho vợ, làm cho các chị ngây thơ cảm thấy sung sướng và xúc động. Ặc! Vậy xem ra ngoại tình cũng có lợi nhỉ!

Tất nhiên nó chỉ có lợi khi những cuộc tình chả phải tình đầu hay tình cuối này luôn được giữ kín, đừng để các chị phát hiện ra. Một điều nữa là hoa lá cành thì được, quả thì dứt khoát không nên nhá! Bằng không thì tan cửa nát nhà, và ắt sẽ có một anh bạn của chồng bị đem ra “tra tấn” thôi!

4. Ngoại tình dưới góc nhìn xã hội

Tại sao xã hội lại không thể chấp nhận ngoại tình? - Vì đó là nguyên nhân làm cho người khác đau khổ, vì đó lý do hàng đầu dẫn đến sự đổ vỡ của hôn nhân.

Vậy, nếu chuyện ngoại tình được giữ kín thì sẽ không làm cho người khác đau khổ, cũng có nghĩa không phải là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ. Thế thì, bằng cách nào đó, nếu các anh giữ kín được chuyện ngoại tình thì xã hội sẽ không có quyền lên án các anh, và các anh tất nhiên chẳng có lỗi gì!

Nghe ra chuyện này trở nên có lý rồi anh nhỉ! Mà nếu có lý thì em cũng nên chấp nhận thôi!

Chỉ có điều, các anh là những người đã có gia đình, vì vậy, các anh cũng phải chấp nhận một số điều kiện:

- Một là, không được bỏ bê vợ con, phải về ăn cơm đúng giờ, mỗi tuần phải về nhà Ngoại một ngày và chở vợ con đi chơi đâu đó khi có yêu cầu. Ngoài ra, các anh cũng cần đáp ứng một vài nhu cầu của vợ (mà thôi, có lẽ chỉ có các chị mới nói riêng với các anh được).

- Hai là, khi về nhà, các anh không được than mệt, không được vô cớ cau có, cáu gắt, phải luôn nở nụ cười trên môi và không được thoái thác những công việc cần đến đàn ông.

- Ba là, các anh phải mang về nhà số tiền đúng bằng (hoặc hơn càng tốt) khi các anh chưa có bồ.

Chỉ cần nhiêu đó thôi, nếu các anh thực hiện được, em sẽ viết blog và để status trên Facebook kêu gọi các chị hãy để cho các anh tự do, thoải mái. Suy cho cùng thì các chị có mất mát gì đâu, chỉ thấy cả đôi đàng đều có lợi.

4. Kết luận

Như đã phân tích, cuối cùng thì em chốt lại quan điểm của mình: em không cổ vũ cho việc các anh ngoại tình, nhưng cũng không phản đối nếu chuyện ấy không làm ảnh hưởng đến các chị ở nhà. Các anh cứ đi, bao giờ chán thì về! Dĩ nhiên sẽ có người hỏi em: “Lỡ các anh bỏ đi luôn, không về nữa thì sao?”. Xin thưa, nếu các anh đã muốn bỏ đi, tức là không còn yêu gia đình, không còn yêu vợ mình nữa, thì việc cố níu kéo các anh phỏng có ích gì? Nếu có giữ được thì chẳng qua các chị cũng chỉ giữ được phần xác. Chẳng lẽ điều đó không làm tổn thương đến các chị sao?

Về phía các anh, em nói nốt ý này thôi, rồi không nói nữa đâu, rằng: phàm đã nói đến chuyện ngoại tình tức là phải có cả nam giới và nữ giới - chứ không thì các anh ngoại tình với ai?. Đấy, thế là lại nảy sinh ra vấn đề mới: nếu các anh ngoại tình thì các chị có thể ngoại tình được không?

Cho nên, thế này nhé, các anh cứ mặc sức đi nhậu nhẹt, về nhà thì quần đùi ống thấp ống cao với cái bụng mỗi ngày một hoành tráng, lượn qua lượn lại trước mặt các chị, ợ hơi thật thoải mái, đánh răng, tắm rửa qua quýt. Mỗi lần “vào trận”, các anh chả cần đến khúc dạo đầu đâu, hoặc nếu có thì chỉ qua loa cho xong. Các anh cứ việc nằm xem TV mỗi tối, kệ cho các chị nấu nướng, dọn dẹp, lau chùi, ủi đồ, dạy con học. Các anh cứ việc chê trách các chị rằng người đâu mỗi ngày một già, một xấu, một luộm thuộm, lại chả biết nói chuyện chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật gì cả, suốt ngày chỉ biết càm ràm.

Cứ thế… cứ thế… nhé, và xin các anh đừng kiểm tra túi xách, điện thoại, máy tính… của vợ, kẻo có ngày lại thấy đau như thể tự mình cầm dao cứa vào mình đấy!

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Sài Gòn ngày bão rớt

Có một ngày bão rớt
Sài Gòn mưa lâm thâm
Em gái mình lên mạng
Hỏi: 
– Ai cà phê không?

Một anh không còn trẻ
Vừa xong ca trực ngày
Bấm “like”: – Anh đăng ký!
Nhớ rủ cả chị Hai!

Anh bạn không còn trẻ
Là “người xưa” của mình
Nghe đâu vừa lên chức
Đời sang trang mới tinh

Em gái rủ chị gái:
– Chuyện xưa dĩ vãng rồi
Mừng anh ấy lên chức
Chị đi cùng cho vui!

Nhìn chiều rơi chầm chậm
Mình thỏ thẻ với chồng:

– Cà phê em không thích
Anh đi giùm được không?

Chồng mình cùng em gái
Cà phê với “Người xưa”
Mình ở nhà ngồi đếm
Thời gian nhoè trong mưa

Có chút gì là lạ
Không buồn, không hẳn vui
Ghé qua chiều lướt thướt
Vẩn vơ ngắm quán đời.

Hai mươi lăm năm lẻ
Chợt ngưng lại ngỡ ngàng
Sài Gòn ngày bão rớt
Có giọt tình đi hoang.