.comment-block img { max-width: 300px !important; }
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

LỘC VỪNG “VẼ” TRÊN “VỆT MÀU”

Tôi qua nhà Lộc Vừng và bắt gặp bài viết này. Bạn khoá phần bình luận nên tôi không thể xin phép bạn được... Thôi thì tự tiện mang bài viết này về, nếu bạn không bằng lòng thì tôi sẽ cất đi sau. Cảm ơn bạn rất nhiều!  

Đi tìm ẩn số của một bài thơ



Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
Ngược lòng mình tìm về nông nổi
Lãng du đi vô định cánh chim trời

Công bằng mà nói, lần đầu tiên tôi tìm và đọc trọn vẹn bài thơ mở đầu bằng 3 câu thơ này. Bài thơ có cái tên dài lê thê: Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh. Cá nhân tôi không thích đọc những bài thơ về tình đầu không phai hay về cái gì đó đại loại như sự rung động về quá khứ. Cho đến khi tôi đọc bài thơ “Vệt màu” của chị OM. Một bài thơ đẹp – như nhận xét của một bạn blog. Với tôi, bài thơ không chỉ đẹp mà cái khiến tôi tò mò với một niềm say mê khám phá, là thông điệp mà chị muốn nói là gì? Thật sự, đây là một đáp án không thể tìm ngay được lời giải, là tâm sự không thể gọi ngay cho tròn một tiếng. Tôi nghĩ đến thuyết “Tảng băng trôi” củaErnest Hemingway. Và tôi muốn đi tìm.

“Vệt màu” không phải là bài thơ đầu tiên chị OM dùng thể thơ 5 chữ - một lối tự sự trữ tình đủ để người ta có cảm giác đang đứng giữa ranh giới của cái cũ và cái mới theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Có lần tôi đã nói với chị rằng chọn thể thơ 5 chữ để diễn tả được cảm xúc không phải là điều dễ dàng. Nó có thể “chết” ngay khi vừa được sinh ra nếu như nó chỉ là tự sự. Và ngược lại, nó bắt rễ bền chặt ngay vào trái tim người đọc, nếu nó vượt lên chất tự sự thông thường của kiểu trò chuyện thủ thỉ đặc trưng này. “Vệt màu” đứng ở vị trí thứ hai trong hai điều giả định nói trên. Đó là một câu chuyện  bằng thơ, là những say – tỉnh – đục – trong của thứ cảm xúc mà chính con người  không thể điều khiển được, dù sản sinh ra nó: tình yêu. Này nhé: một chiều nỗi chênh chao nhuộm lên cảm xúc, Anh ghé quán  gọi cafe trong tâm trạng rủ buồn “Phả khói vào chùng buông” (khói cafe và có chăng còn là khói thuốc). Em đến sau (Tình cờ do vô thức hay là chủ ý hò hẹn, dù thế nào thì “đối tượng” của cảm xúc đang lăn từng giọt theo tách café cũng đã xuất hiện). Café cho Anh, nước Cam vắt cho Em- Ta có một nhịp tích tắc của thời gian lắng đọng bên nhau. Trong khoảng tích tắc dài vô chừng mà cũng ngắn chẳng tày gang đó, biết bao kỷ niệm ùa về.

Có một ngày xưa lắc
Tim giấu mấy vần thơ
Cuối giảng đường vắng ngắt
Anh đã chờ, đã chờ…

Có một ngày xưa lắc
Em vờ lướt qua anh
Tà áo bay hờ hững
Thơ tròng trành,tròng trành…

Đó là những kỷ niệm mà Anh và Em cũng nhắc lại, hay chỉ là những đoạn phim quay chậm hiện lên trong ký ức mỗi người khi đối diện trước Café – Cam?

Tôi nghĩ, và tôi thích cái ý nghĩ đó chỉ là ký ức hiện về. Kể cả những dở dang làm trái tim ai se thắt bối rối, cũng chỉ là cảm xúc đang xôn xao trong tâm tư và được giấu kín sau ý nghĩ rằng thời gian dù đã trôi qua bao mùa mưa nắng, thì những vần thơ yêu “xưa lắc” năm nào của Anh vẫn chỉ là nhịp lặng của con tim tuổi trẻ trước một rung cảm đẹp. Để rồi:

Ngày em may áo cưới
Thơ anh mặn vị tro.

Ở phía đối diện,  Em ngập tràn suy tư về cái thuở cố làm ra “hờ hững” lướt qua anh, ngậm ngùi tiếc nuối một tình yêu đi lạc ngay từ giây phút đầu tiên. Cho nên giấc mơ một ngày mỏi mệt được “Gục bên nụ tình đầu” là hoàn toàn có thật, rất đời, rất Người. Thật lạ là đọc đến những câu thơ cuối cùng của bài thơ, tôi lại nhớ đến thần thoại  “Ngàn lẻ một đêm”. Ý niệm ban đầu của tôi về một cuộc hò hẹn tình cờ của Anh và Em biến mất. Tức là con số “hai người” biến mất, để chỉ còn lại là một. Có thể là Anh, và cũng có thể là Em, trong buổi chiều “ngược nắng” ấy đã tạm quên nhịp sống “xe – người – xe” khi tìm cho mình một góc thầm lặng để suy tư….

“Vệt màu” – ngay cái tên của nó, đã không báo hiệu đó chỉ là một câu chuyện tình, chuyện đời nói trên. Đó là một khúc nhạc tình yêu sâu lắng. Và hơn cả, đó  là một bức tranh tâm trạng đa sắc màu.  Cho nên vì thế mà đa nghĩa. Tôi thích “Vệt màu” vì tầng nghĩa thứ hai này. Bởi lẽ, đồng hành cùng câu chuyện thơ, là những sắc màu của buổi xế chiều. Nếu là một bức tranh,thì tôi thích nó thế này: nền tranh là sự pha trộn của sắc café nâu ẩn hiện sau những vòng khói (khói café và khói thuốc). Tâm điểm của bức tranh là sắc vàng, không thật vàng, nhưng đủ làm khói café và khói thuốc quẩn quanh vây quấn lấy nhau làm nên “vệt thời gian” không phai.  Thử hình dùng nếu thiếu “tâm điểm” này,thì tranh có còn là tranh không???

Nhưng, quan trọng hơn,bức tranh đó không phải là tranh tĩnh. Nó là tranh động. Nói cho đúng, trong cảm nhận của tôi, nó là tranh loang – sắc nâu đậm đặc ban đầu, sắc vàng sóng sánh trong nắng chiều xế bóng, theo thời gian, cũng đang loang mờ dần dần – như một vùng mây biếc mây hồng trong giấc mơ tình yêu kỳ diệu cứ nhạt dần khi đêm trôi về ngày.

Vệt màu loang chới với
Nhuộm thẫm cả góc bàn

Bạn đã bao giờ quan sát thời gian trong buổi hoàng hôn và giây phút bình minh chưa?

Trước khi trời tối, bao giờ cũng có giây phút bừng sáng, dù chỉ trong giây lát, rồi nét bừng sáng ấy chìm vào bóng đêm. Và, khi mặt trời lên, bao giờ trước lúc ánh sáng của ngày hiển hiện, cũng có một nhịp tối sầm nhẹ như một làn gió thoảng. Tôi nghĩ về điều đó, khi đọc đến:

Giờ tan tầm tất bật
Loang loáng xe – người – xe
Chỉ vệt màu bất động
Dường che khuất lối về

Nhược điểm của bài thơ, như nhận xét cũng của một bạn blog là có quá nhiều ngôn từ trau chuốt. Nó làm cho “bài thơ đẹp, cái đẹp của cảm xúc”. Tôi cũng thích nhận xét này. Nhưng tôi băn khoăn, không lẽ nhiều ngôn từ đẹp thế mà không có “nhãn”? Và tôi lại đi tìm. Thì đây: là những động từ khuấy động bức tranh tâm trạng. Ban đầu là Anh, trong buổi chiều uể oải, có một khoảng lặng để “phả” khói vào chùng buông. (chùng buông: tôi không hiểu tiếng Nam cho lắm, nhưng tôi nghĩ nó là sự pha trộn giữa hai nét nghĩa: không gian và thời gian). Khi “em đến” cái khoảng lặng “chùng buông” ấy xôn xao nhịp đập nhanh hơn bình thường của trái tim yêu. Bởi thế mà từ “khuấy” trong câu thơ “Khuấy thời gian mênh mang” chính là điểm vào bức tranh, linh hồn của sự sống. Khi trái tìm cùng lên tiếng nấc, bước qua cái lằn ranh mong manh của cảm xúc, thì cảm xúc không còn “đẹp” nữa. Chị OM tinh tế với chuyện…nhỏ nên chị OM dùng “nén” và “giữ” cho cảm xúc ấy mãi thăng hoa:

Café chiều sóng sánh
Anh nén giọt thời gian
Ly cam tan lành lạnh
Em cố giữ khỏi tràn

Bài thơ mở và khép lại thời gian và không gian từ chiều về tối. Giữa hai khoảng đó, câu chuyện kéo dài từ “xưa lắc” đến hiện tại. Và chủ thể trữ tình Anh – Em như là hai nốt nhạc trầm kéo dài những luyến láy du dương của bài ca tình đầu không phai, mở đầu đã là cao trào để rồi kết thúc ngân buông nhẹ như một hơi thở gần. Vì thế nên với tôi, 4 câu thơ cuối dồn tụ mọi ý niệm về bài thơ này:

Chợt nắng chiều vụt tắt
Ta tỉnh giấc bàng hoàng
Có vệt màu sám hối
Vừa vẽ vào thời gian

Vệt màu của chiều, vệt màu của sự gặp gỡ, vệt màu của sự “sám hối” – như chị nói – đều chạm khắc vào thời gian một cái gì đó mà tôi không thể cắt nghĩa theo lối chiết tự được. Vệt màu, chứ không phải là sắc màu. Tôi không am hiểu về hội họa cho lắm. Tôi chỉ nghĩ: vệt màu thường khó phai, khi đã loang trên tranh vẽ. Như trên đã nói: tôi không thích đọc những bài thơ về tình đầu không phải hoặc cái gì đại loại như thế. Nhưng khi đọc bài thơ với cảm xúc rất “đẹp” này, tôi đã thay đổi suy nghĩ: hình như nếu trong tim ai không có một “vệt màu” thì cuộc sống sẽ đơn điệu biết bao! Bởi khi ấy, ta đâu cần”bàng hoàng” và “sám hối” – dù có thật hay  chỉ là trong tâm tưởng???

Đáp án của “Vệt màu” với tôi vẫn là ẩn số.

Link của bài viết gốc Đi tìm ẩn số của một bài thơ

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Trao đổi với Như Mai

Bạn Như Mai có một bài viết rất hay, phân tích bài thơ EM CHUYỂN MÙA CHO PHỐ của tác giả Nguyễn Thanh Vân.
Bấm vào đây xem bài viết

Mình rất khâm phục khả năng cảm nhận và phân tích thơ của bạn. Tuy nhiên, có một đoạn mình chưa hài lòng lắm và Như Mai đề nghị mình nói rõ hơn. Có điều, nếu bình luận ở nhà Như Mai thì phần bình luận sẽ quá dài và có thể làm ảnh hưởng đến nhiều bạn bè khác khi vào nhà bạn, nên mình viết nhanh bài này thay cho câu trả lời của mình ở bên ấy.

Đoạn mà mình muốn trao đổi như sau:
Thông thường, nhiếp ảnh gia là người sao chép lại những gì họ muốn lưu giữ một cách chân thực bằng kỹ năng để cho ra đời một bức tranh đẹp. Họa sĩ tái hiện lại bằng nét vẽ có thể thực, có thể hư cấu và hướng người khác đi theo cái nhìn của họ bằng tài năng không theo kiểu ghi “biên bản” mà là một “bản hòa ca” hòa vào trong từng nét vẽ... Người làm thơ thì triển khai ý tưởng trên nền cái chân thực hoặc hư cấu để thăng hoa cảm xúc và "vẽ" nó theo cách riêng của họ mà không một họa sĩ tài ba nào có thể “phối màu” để vẽ nên hay một nhiếp ảnh gia nào có thể sao, chụp lại được. Trong bài thơ này, tác giả đã dẫn dắt người xem đến với những thông điệp khác nhau mà anh muốn gửi gắm qua xúc cảm hòa vào từng con chữ bằng trí tưởng tượng về một “bóng hồng” là chủ điểm của bức tranh trẻ trung, sinh động.

1. Thông thường, nhiếp ảnh gia là người sao chép lại những gì họ muốn lưu giữ một cách chân thực bằng kỹ năng để cho ra đời một bức tranh đẹp.

Mình không cho rằng công việc của một nhiếp ảnh gia là “sao chép”. Khi đã là nghệ thuật thì người làm nghệ thuật là nghệ sĩ, mà nghệ sĩ thì không thể sao chép bất cứ điều gì. Nghệ sĩ chỉ có thể sáng tạo.

Những bức ảnh này có phải là sao chép chân thực không?













































Nhà nhiếp ảnh không cho ra đời một bức tranh đẹp. Nhà nhiếp ảnh sẽ cho ra đời những bức ảnh – có thể đẹp theo nghĩa thông thường, cũng có thể không phải là đẹp theo nghĩa thông thường, mà là đem lại cho người xem một cảm giác hay cảm xúc nào đó. Chẳng hạn như bức ảnh dưới đây (tác phẩm đoạt giải ảnh phóng sự Pulitzer 2011).

















Bức ảnh này có đẹp không nhỉ?



(Về “tranh” và “ảnh” thì mình đoán bạn Như Mai gõ nhầm thôi. Điều mình muốn nhấn mạnh là không phải tác phẩm nhiếp ảnh nổi tiếng nào cũng phải đẹp theo nghĩa thông thường).

2. Họa sĩ tái hiện lại bằng nét vẽ có thể thực, có thể hư cấu và hướng người khác đi theo cái nhìn của họ bằng tài năng không theo kiểu ghi “biên bản” mà là một “bản hòa ca” hòa vào trong từng nét vẽ.

Nét vẽ thực là thế nào? Nét vẽ hư cấu là thế nào? Hix… hix…, mình không hiểu? Và nữa, bản hoà ca vào trong từng nét vẽ là gì, mình cũng không hiểu nốt!

3. Người làm thơ thì triển khai ý tưởng trên nền cái chân thực hoặc hư cấu để thăng hoa cảm xúc và "vẽ" nó theo cách riêng của họ mà không một họa sĩ tài ba nào có thể “phối màu” để vẽ nên hay một nhiếp ảnh gia nào có thể sao, chụp lại được.

Bạn đã khập khiễng khi so sánh nhà thơ với nhà nhiếp ảnh và hoạ sĩ rồi! Mỗi “nhà” sẽ có một kiểu diễn đạt riêng chứ! Chẳng hạn nếu mình nói “Phở có thể cho ta một vị ngon đặc biệt tuyệt vời mà không một loại bún hay hủ tiếu nào có thể làm được” thì… sao ta? Hihi!

Hay có phải ý bạn muốn nói rằng cái cách riêng của nhà thơ là họ có thể “vẽ” nên những điều mà ta chỉ có thể đọc thấy, cảm thấy chứ không nhìn thấy? Vậy thì mình giới thiệu với Như Mai hai bức tranh nổi tiếng thế giới mà mình thích lắm lắm, nha!

Sự dai dẳng của kí ức. Salvador Dali


Thời điểm ra đời của bức tranh này, tại châu Âu xuất hiện hai cách nhìn về thế giới, một là thuyết tương đối của Einstein, hai là nhận thức của con người qua phân tích của chuyên gia tâm lý Freud. Cả hai nhà tư tưởng này đều ảnh hưởng lớn đến Dalí. Thông qua việc khắc họa trạng thái mộng mị trong Sự dai dẳng của ký ức, Dalí khơi gợi nhiều học thuyết mà chưa họa sĩ nào hay bất cứ người nào nghĩ đến. Trong khi xem xét mối tương quan giữa vạn vật trong vũ trụ theo học thuyết của Einstein, ông đã miêu tả chúng theo luận điểm của nhà tâm lý học Freud, nêu bật những khía cạnh siêu thực của thế giới.

Nụ hôn. Gustav Kilimt


Bức tranh này được mệnh danh là tượng đài bất diệt của tình yêu và “được khao khát nhất” trên thị trường nghệ thuật (do Gallery mỹ thuật OverstockArt.com công bố). Bức tranh vẽ chiếc áo người đàn ông với những hình vuông, chữ nhật, người phụ nữ tìm được điểm tựa say đắm đón nhận tình yêu trong chiếc áo của những hình tròn và xoắn ốc, mặt đất đầy hoa tung hô cho tình yêu đôi lứa. Đường nét lung linh, màu sắc trang trí tràn ngập và tình cảm nồng nàn. Xem tranh, ta cảm thấy hạnh phúc lan tỏa khắp không gian, và nữa, ta cũng thấy rõ cảm giác nhục dục chạy rần rật trên từng chi tiết của hai cơ thể đang quyện vào nhau.

Mỗi lần cảm thấy lửa lòng đang tắt dần, mình lại xem bức tranh này và lần nào cũng thấy tim mình rung trở lại, hí hí!

Có thể bạn sẽ bực mình khi mình cứ thích lắm điều nhiều chuyện (cái này là nói thật lòng, vì đôi khi mình cũng bị bực như vậy), nhưng đã là một sân chơi thì chúng mình cứ chơi hết mình và “chấp nhận thương đau” khi quyết định thảy đứa con của mình ra puplic.

Thế nhé, Như Mai!
Một lần nữa mình phải nhắc lại là mình rất khâm phục bạn, cho nên mới bỏ thời gian ra viết những dòng này, chứ nếu không thì từ sáng đến giờ mình làm được bao nhiêu việc rồi! Mong bạn mau khoẻ để viết được nhiều thứ cho mình đọc! Thân!

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Hán Việt ơi, Hán Việt à

Hán Việt ơi, Hán Việt à
Có vay thì vay cho khéo
Kẻo mà…loạn ngôn!

Hồi xưa đi học, tôi thường được nghe thầy cô khuyên nên học tập cách viết của Bác Hồ. Bác viết giản dị, dễ hiểu, nếu sử dụng được từ thuần Việt thì nên sử dụng, hạn chế tối đa việc sử dụng từ Hán Việt.
Sau nhiều năm chơi đùa với chữ, tôi thấy trong một chừng mực nào đó, Bác Hồ đã đúng. Nhưng một khi xã hội phát triển, ngôn ngữ không thể là một thực thể đứng ngoài sự phát triển của xã hội. Ngôn ngữ cũng phải giao lưu, phải cọ xát, và tất nhiên ta không thể ôm khư khư cái kho từ thuần Việt vốn có. Bác Hồ có thể dùng “các cháu dân quân gái” trong một ngữ cảnh nhất định, nhưng ta không thể vô tư đưa lên các phương tiện truyền thông những cụm từ kiểu bộ đội gái, luật sư gái, nhà văn gái… Tóm lại, từ Hán Việt vẫn chiếm đến 60% ngôn ngữ và ta không thể hạn chế chế sử dụng. Có điều, sử dụng từ Hán Việt như thế nào cho đúng và cho khôn ngoan, tưởng chừng như dễ mà không phải dễ!
Lên mạng, tôi sưu tầm được bài viết này và ôm về đây để phục vụ cho trò chơi với chữ của mình. Bài viết hơi dài, nhưng có nhiều vấn đề thú vị để ta có thể suy ngẫm, đồng ý hoặc phản biện.


Những từ dùng sai trong ngôn ngữ tiếng Việt

1.- Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt.

CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt ví tính từ đứng trước danh từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ chung Hán việt không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy chung cư 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn.

KHẢ NĂNG. “Khả năng” là năng lực của con người, có thể làm được việc gì đó. Thế mà người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục và đáng xấu hổ. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng (capacité, capable) với khả dĩ (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là có thể, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực mà con người mà thôi.

QUÁ TRÌNH. Quá là đã qua, trình là đoạn đường. Quá trình là đọan đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: “Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo câu đại loại thế nầy: “Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi”.Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai.

HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học tiếng Hán, mà lại thích dùng tiếng Hán để tỏ ra “ta đây” nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói “huyền thoại Pelé” “huyền thoại Maradona”.. Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 càu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chũ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: “Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có trong huyền thoại”. Ông bà mình thường nói: “Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?”

HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ (lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu 昬夫,昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy.

2.- Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt

ĐỘC LẬP Độc là riêng một mình, Lập là đứng. Vậy theo nghĩa gốc Hán Việt, độc lập là đứng riêng rẻ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ tự chủ để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ.

PHONG KIẾN.封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa.

TIÊU CỰC, TÍCH CỰC 消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc Hán Việt thì sự gán ép như thế là sai. Tich cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu.

3.- Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm).

QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: “Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ”. Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giố mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu, Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật 忌日.Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.

GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.

ĐỆ NHẬT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có` tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố , nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.

4.- Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm.

X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng “Phòng X quang” Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi vể kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0,1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chăn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông “đại giáo sư tiến sĩ” nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ “TIA X” như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ “X QUANG” để chứng tỏ ta đây biết “nói chữ” hay sao?

BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phu, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đà được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu.

Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chi, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như : nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam!

NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ” Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao?

TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên song.. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nói con nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng.

HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch là cái hạt, tâm là cái lõi hay cái nhân bên trong . Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là “nhân của hạt” hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi “vỏ hạt” chứ không thể gọi là “hạt vỏ” được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạt mới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm.

TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc có nghĩa là ăn cướp, đạo mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê. . . Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là “bọn rải đinh” thì hơn.

Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như:
Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp,
Nhóm trưởng, phải sửa lại trưởng nhóm
Siêu rẻ, phải sửa lại rất rẻ
Siêu bền, phải sửa lại rất bên
Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn
Vân vân…

5.- Dùng từ vô nghĩa

Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là “nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu”. Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hán Hoa liễu 花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép “bịnh hoa liễu” để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu !!!

ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: “Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy”. Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn.

SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự 故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.

HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: “Cô ây sống hoàn cảnh lắm”. Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói “Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm”!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế đó không ?

ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chức không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được.

XÂY DỰNG. “Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới dó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi.

6.- Dùng sai nghĩa từ thuần Việt.

NGƯỠNG. Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1% thì đường thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mổi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 đô đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên.

KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó :”Thằng A hay kiêu ngạo người khác.” Tôi không giải thích được vì không rõ câu nầy có nghĩa: “thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác”, hay là “thằng A thường chế nhạo người khác”. Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được.

TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: “Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chử tịch”

7.- Dùng từ thiếu chính xác

CHẤT LƯỢNG. Chất là cái khối chứa bên trong một vật (matière,) lượng là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được ( masse). Thí dụ: “khối lượng hay chất lượng của một vất là 1 kilo gramme”. Thế mà ngày nay người ta dung từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: “Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má cò có hại cho sức khỏe nữa”.

CẢM GIÁC. 感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: “Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm”. Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từ cảm nghĩ. Thí dụ: ‘Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?”. Thực là sai một cách trầm trọng.

THỐNG NHẤT. Thống nhất 統一 là làm biến mất tình trạng chia rẻ bắng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: “Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch”. Nói như vậy là sai.

GIẢI PHÓNG . Giải phóng 解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chi công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng.
ĐĂNG KÝ. Đăng ký 登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày, người ta nói: “Tôi đã đăng ký đi nước ngoài” Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói: ghi danh hay ghi tên mới đúng.

8.- Từ vựng lộn xộn.

LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà.” Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch.

YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: “Tôi yêu cầu anh đi ngay”. Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ.

NGHIÊN CỨU SINH. Sinh là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như “Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc” Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ!

ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng 印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn thượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như “cảnh đó rất ấn tượng”, và cả động từ nữa, như “tôi rất ấn tượng cảnh đó”. Hết sức bậy bạ

THẦN TƯỢNG. 神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như “người đó rất thần tượng”, rồi cả động từ nữa “anh có thần tượng đồng chí đó không?”

TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: “Cần phải báo cáo cho trên rõ” hay “trên bảo, dưới không nghe”.

LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vi nói làm giỏi, học giỏi.

LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay 领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: “Lãnh đạo đã chỉ thị như thế”

Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó.

9.- Cóp tiếng Tàu đang dùng.

LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp, rất hay vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được.

TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: “trong chuyến đi tham vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít” Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu.

Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là đều điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ,大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt.

10.- Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa.

ĐIỂM YẾU Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là cái điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng.

THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là “ở phía bên trên”. Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thi thấp có nghĩa là ẩm ướt.. Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: “giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm” hay “dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm”

11.- Đảo tư kép bừa bãi và không cần thiết.

XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: “…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ….”. Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được.

Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái …..

Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được.

Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay.

Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: “Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt”!!!

12.- Ghép từ bừa bãi.

KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ “kich thích nhu cầu tiêu thụ” được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép “kích cầu”, tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiên ở dưới sông. Cách ghép nấy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay.

GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phài một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn đò cẩn thận: “Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé”. Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không

13.- Dùng từ dao to búa lớn

CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: “nội chiến ở bán đảo Ibérique”. Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa, Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay.

CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: “Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái”. Nghe thực đáng sợ.

NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng “ngài”. Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi.

THAM QUAN. 參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu. Gọi thế mới hách chứ.

NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu.

14.- Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục.

KHẨN TRƯƠNG Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Uc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.

BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: “Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà nội”. Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường.

15.- Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý.

MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao.

LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình.

16.- Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỹ thuật hiện đại.

COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỷ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác.

INFORMATION TECHNOLOGIE dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, tecgnologie là một kỷ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép “tin học” thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt. *ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuất và ngôn ngữ.

(trich TrieuThanh Magazine)