Tuổi thơ của tôi gắn liền với hai khái niệm: Hà Nội và ông bà ngoại.

Tôi sinh ra ở Hà Nội và lớn lên dưới mái nhà của ông bà. Lúc tôi sinh ra, mẹ tôi còn là sinh viên, luôn bận rộn với việc học hành, các bài vẽ và những chuyến đi thực tế dài ngày; ba tôi làm ở toà soạn báo, thường xuyên phải trực đêm, nên việc chăm sóc, dạy dỗ tôi phải nhờ nhiều vào ông bà. Tối tôi nằm giữa nghe ông bà kể chuyện, ban ngày ông bà bày trò cho tôi chơi. Lớn lên chút nữa, bà bắt đầu dạy tôi làm việc nhà và ông dạy những bài học về cách cư xử để trở thành người Hà Nội thanh lịch. Nhờ có ông bà, tôi mới biết cách cầm chổi quét nhà, cách rửa ấm chén pha trà, cách nấu cơm bằng bếp củi, bếp dầu, cách cầm cây kim may vá… Cả những chuyện hết sức đơn giản như khách đến nhà phải chủ động chạy ra chào hỏi, mời nước; chuyện khi ăn cơm phải xới phần cháy lên ăn trước, để phần nồi cơm tươm tất cho những người ăn sau; chuyện bước đi phải nhấc cao chân, không được lê dép lẹp xẹp… cho đến chuyện đi đường gặp đám tang thì bất luận trời nắng hay mưa cũng phải phải bỏ mũ để tiễn đưa người đi về thế giới khác. Có lẽ trẻ con sau này hiếm khi được dạy dỗ tỉ mỉ như vậy, nên người Hà Nội giờ đây không còn là người Hà Nội thanh lịch như những hình ảnh còn lưu lại trong ký ức của tôi. Tiếc thay!

Lên 8 tuổi, tôi theo ba mẹ vào Sài Gòn, bắt đầu một cuộc sống mới không có ông bà.
Thỉnh thoảng, có những lần giận ba mẹ, tôi cứ nung nấu ý nghĩ mình sẽ phải quay ra Hà Nội, vì chỉ có ông bà mới hiểu được những nỗi ấm ức mà tôi đang phải giữ ở trong lòng, vì ba mẹ suốt ngày chỉ có công việc mà không có thời gian để hiểu những tâm tư của tôi. Nhưng muốn ra Hà Nội thì phải có tiền mua vé tàu, mà tôi thì một xu cũng chẳng có, thế nên trong đầu tôi dần hình thành một kế hoạch… đi bộ. Theo kế hoạch đó, khi nghỉ hè bắt đầu, tôi sẽ nắm vài nắm cơm và cứ đi theo đường rày xe lửa theo hướng Nam – Bắc, kiểu gì thì cũng đến nơi, không sợ bị lạc. Thỉnh thoảng, tàu dừng lại hay đi chậm, tôi sẽ nhảy lên tàu, ngồi ở góc nào đó. Nếu bị phát hiện thì đến ga tiếp theo lại… xuống đi bộ! Kế hoạch hoàn hảo đó luôn nung nấu trong đầu óc non nớt của tôi. Rất may, tôi không thực hiện được vì cứ đến hè là ông bà lại vào thăm hoặc tôi lại được ra Nà Nội thăm ông bà… Cứ thế cho đến khi tôi đủ lớn để hiểu lòng ba mẹ và để biết rằng mình phải chấp nhận cuộc sống không có ông bà bên cạnh.
Ông và bà là một mẫu lý tưởng để cho không chỉ con cháu, mà bất cứ một cặp vợ chồng ở bất cứ nơi nào cũng phải ngưỡng mộ. Có với nhau 5 người con gái, 2 người con trai (không kể một cậu đã mất, còn lại tất cả 7 người đều được học hành cho đến khi thành đạt), ông bà vẫn luôn quấn quýt bên nhau bằng một thứ tình cảm mà thời đại của tôi bây giờ khó lòng hiểu được! Tôi luôn nhớ hình ảnh ông bà luôn khoác vai hoặc nắm tay nhau khi đi dạo ngoài đường, ông luôn xách túi bên bà khi đi chợ, buổi tối bà xoa lưng cho ông, rồi đến lượt ông bóp vai cho bà. Chẳng bao giờ thấy ông bà rời nhau nửa bước. Còn nhớ một lần bà có việc phải vào Sài Gòn mà không có ông đi cùng. Vài ngày trước khi bà đi, ông đã nôn nao không ngủ được. Đêm ông thức dậy viết thư cho bà. Tiễn bà ra ga xong, ông ra bưu điện bỏ thư vào thùng. 3 ngày sau, bà vào đến Sài Gòn cũng vừa lúc thư của ông đến. Tình yêu như vậy có lẽ chỉ xảy ra ở thời điểm đôi trai gái chưa cưới, đang mê đắm nhau, chứ ở hai ông bà già đã có 7 người con cùng cháu nội cháu ngoại đầy nhà thì tôi chưa từng gặp bao giờ.
Vậy mà cách đây tròn 13 năm, ông đã phải đi xa bà. Năm ấy ông 82 tuổi.
Suốt 13 năm qua, bà ngủ trong phòng có bàn thờ ông. Xung quanh phòng của bà treo đầy ảnh của các cháu, các chắt từ lúc ẵm ngửa cho đến dăm bảy tuổi. Bà nhìn ảnh ông để hàng ngày hẹn sẽ về với ông, nhìn ảnh các cháu chắt để thấy chúng lớn lên như một minh chứng cho niềm hạnh phúc tuổi già.
Mỗi lần có dịp ra Hà Nội, tôi lại chạy ào đến ôm bà, thấy bà lúc thì đeo kính, lại cầm thêm chiếc kính lúp đọc báo Văn nghệ, lúc thì ngồi xem chương trình phim truyện, không cần kính mà vẫn đọc được phụ đề lướt trên màn hình. Tôi mừng. Thầm cầu trời cho bà sống lâu trăm tuổi, biết đâu lại được chứng kiến sự ra đời của thế hệ chút chít.
Nhưng lần này ra Hà Nội, bà đã muốn đi gặp ông. Bà nằm im bất động trên giường đã 10 ngày nay, không ăn, chỉ thỉnh thoảng nhấp môi một chút nước. Mọi người hỏi
Bà đã thấy ông chưa?, bà bảo
thấy rồi. Tôi gọi: “Bà ơi, cháu đây!”, bà chỉ “ừ”, không đủ sức nói thêm. Vậy mà bà vẫn nấn ná chưa
đi. Các dì bảo
bà đang “chờ” mẹ cháu ra cho đủ mặt. Tôi gọi điện báo mẹ ra gấp. Trưa hôm sau, mẹ bay ra. Bà không “ừ” được nữa, nhưng mấp máy mắt. Hơn một tiếng sau bà đi.
Thầy chùa xem ngày tháng bảo tang này là
Hồng tang. Bà vừa nhắm mắt là có người đợi sẵn, dẫn bà đi ngay, gia quyến không nên quá đau buồn. Tôi đoán chắc ông đang đợi bà. Có thể ông đứng đợi bên chiếc xe đạp peugeot màu xám bạc quen thuộc của ông, để chở bà như ngày xưa, cũng có thể ông sẽ nắm tay bà đi bộ…
Sau đám tang bà, tôi ra sân bay để trở lại Sài Gòn. Hà Nội đang chuyển mùa, sắp sang hè. Qua cửa kính xe, tôi nhìn đám lá vàng bay đầy trên phố, biết rằng từ nay, mỗi lần đáp xuống sân bay Nội Bài, tôi sẽ không bao giờ còn cái cảm giác lâng lâng, háo hức, muốn bay ngay về căn nhà trong con ngõ nhỏ, chạy lên gác để ôm bà nói rằng: “Bà ơi, cháu đã về!”. Không còn là nơi trở về, Hà Nội với tôi từ nay và mãi mãi về sau sẽ chỉ còn là nơi đến.Xem thêm blog Phạm Hoài Nam