.comment-block img { max-width: 300px !important; }
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Ác mộng


Ta thăm ngôi chùa cổ ấy lần cuối cùng là vào một mùa hè, nắng vàng như mật tràn đầy con đường dẫn vào chùa, nắng lốm đốm qua vòm lá in xuống đất nhảy nhót theo từng bước chân ta qua.

Năm ấy, ta đi công tác ở Hà Nội. Lãnh đạo chi nhánh nói miệng rằng chuyến công tác kéo dài khoảng 2 tuần, cố gắng thu xếp việc gia đình để đi. Ra đến Hà Nội, gặp đúng mùa “chiến dịch”, lãnh đạo Tổng đề nghị ta phải ở lại, thời hạn không xác định – có thể là 2 tháng – và không được phép về. Lòng ta rối bời vì thương thằng con trai mới vừa 3 tuổi, phải ở nhà với ba, không biết sẽ được ba chăm kiểu gì! Một ngày nghỉ, ta cảm thấy mình đang mất phương hướng. Ta mượn chiếc xe máy của người quen, rong ruổi về phía Hà Tây hỏi đường lên chùa, mong tìm kiếm chút tĩnh lặng cho lòng thăng bằng lại.

Chùa nằm trên một ngọn đồi, xung quanh trồng nhiều loại cây cao, gió xào xạc, mát rượi. Ta đi loanh quanh, ngắm nhìn từ mái chùa cong vút, mềm mại mà uy nghi đến tận những góc nhỏ nhất của ngôi chùa, nơi mà từng dấu ấn chạm khắc tinh xảo của các nghệ nhân xưa vẫn còn lưu lại khắp nơi. Ta sờ tay vào từng bệ đá, từng chiếc cột đã lên nước nhẵn bóng, cảm giác mơ hồ về hồn thiêng, về những Được – Mất của cuộc đời và thấy lòng dần dần thanh thản lại. Những nỗi bực dọc và khó chịu hàng ngày cứ loãng dần ra trong tiếng gió vi vu và tiếng mõ xa xa. Chọn một chiếc cột to, ta ngồi dựa lưng vào đó và thiếp đi dăm phút, vừa đủ để mơ có ai đó cho mình chiếc oản bọc trong giấy bóng tím hồng, bóc ra là dậy một mùi thơm tinh khiết.

Giấc mơ tinh khiết đó, ta giữ mãi trong lòng. Thỉnh thoảng, ở Sài gòn, giữa cái bộn bề của công việc, giữa cái nóng nực, kẹt xe, khói bụi, ô nhiễm…, ta lại mang giấc mơ ấy ra, thả cho nó bay bay lên cao, và ta bay bay lên theo, bỏ lại phía dưới vô số điều phiền muộn.

Thế mà hôm qua, các tờ báo đồng loạt đưa tin dữ: ngôi chùa ấy đã bị người ta phá. Lên mạng gõ tên chùa, ta không còn tin được vào những hình ảnh ô trọc đang phơi ra trước mắt. Cổ họng ta nghẹn đắng.


Tối về trằn trọc mãi, quá nửa đêm, ta phải bò dậy uống 2 viên thuốc ngủ. Lúc thiếp đi, ta thấy một đám người khắc khổ – trong đó có mình – đang còng lưng khuân vác gạch, ngói, xi măng, phá phá, xây xây cái gì đó. Nhìn lên dàn giáo phía trên, ta thấy một đám người khác ăn mặc lịch sự hơn, nhưng trên trán người nào cũng đóng một cái dấu đỏ có chữ “Dốt”. Họ cầm những chiếc roi dài, quất vun vút vào không khí và hò hét điều khiển đám người ở dưới.

Ta toát mồ hôi, tỉnh dậy, tự nhủ “chỉ là mơ thôi!”.
Nhưng có phải chỉ là mơ không? Ai biết!

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Tàu đêm đi qua thành phố

Tau dem

Ai đã từng ngồi bên ô cửa sổ của một chuyến tàu đêm đi qua thành phố có thể sẽ hiểu cảm giác này. Nếu như những người đang đi trên đường buộc phải dừng lại trước thanh barie chắn tàu, mắt nhìn chăm chăm vào những toa tàu sầm sập kéo qua trước mặt với cảm giác sốt ruột, thì ta – kẻ ngồi bên ô cửa sổ toa tàu – lại nhìn họ với cái nhìn lướt qua, không hẳn hờ hững, không hẳn quan tâm. Có gì đâu, trong giây lát, ta sẽ bỏ lại phía sau tất cả những gương mặt xa lạ: một anh phát thanh viên trên đài truyền hình vừa tan ca, một chị công nhân đang đến nhà máy thay ca trực cho đồng nghiệp của mình, một cô gái làm ở quán bar vừa dọn dẹp xong đống ly tách bia bọt, đang trên đường trở về căn gác trọ, một gã say rượu đang ngất ngưởng tìm đường về nhà…Có gì đâu, ta chỉ lướt qua họ trong tích tắc và có thể sẽ chẳng bao giờ gặp lại họ trong đời.

Nhưng đấy là bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đêm bình thường. Còn nếu bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đang mang bạn đi khỏi nơi mà bạn đã từng sinh ra, lớn lên và trải qua những tháng ngày tươi đẹp nhất thì cảm giác của bạn sẽ không dễ gì tả lại được bằng lời.

Một lần, tôi có việc nên phải về nhà lúc khá khuya - chẳng may phải đi qua con đường quen thuộc có tuyến xe lửa chạy qua - vừa đúng lúc barie hạ xuống trước mặt. Không hiểu sao, đoàn tàu chạy qua hôm đó đi rất chậm, và ở một ô cửa sổ sẫm tối nhưng có ánh đèn đường hắt vào, tôi chợt bắt gặp gương mặt đầm đìa nước mắt của một một bé gái chừng 10 tuổi. Gương mặt chầm chậm lướt qua tôi và bỗng chốc tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Trời ơi, tôi nhớ, nhớ quá đi mất những căn nhà mái ngói màu nâu xám dưới ánh đèn vàng, bóng những cây sấu già in xuống mặt đường, những người đàn ông đeo trên ghi-đông xe đạp một chiếc cà-men sắt, những người đàn bà mặc quần lụa đen và áo phin nhấp nhổm trên chiếc xe đạp Phượng hoàng đang đứng chờ tàu đi qua… Đó là một đêm mùa hè và cũng là hình ảnh cuối cùng dưới con mắt trẻ thơ của tôi về một Hà Nội thân thương, hiền hoà và đầy ắp kỷ niệm.

Bao nhiêu năm qua, tôi vẫn giữ hình ảnh đó trong lòng, dù Hà Nội bây giờ với tôi hoàn toàn xa lạ. Tôi không còn di chuyển bằng tàu hoả và cũng không có ý định thử đi tàu hoả lại một lần, nhưng mỗi lần dừng lại trước thanh barie chờ cho đoàn tàu sầm sập chạy qua, tôi vẫn cứ cảm giác mình như đang ngồi bên một ô cửa sổ và nhìn xuống con đường với một thứ tình cảm không có lời diễn tả.

Đêm đêm, những con tàu vẫn lặng lẽ chạy ngang thành phố. Nếu một trăm lần bạn đã lơ đãng và sốt ruột nhìn nó nặng nề lăn bánh qua trước mặt thì hãy thử một lần nào đó nhìn sâu vào những ô cửa sổ sẫm tối xem có nỗi buồn nào đang lướt ngang qua không. Nếu thấy được điều gì đó, bạn sẽ hiểu rằng tận sâu trong trái tim, ta đã không hờ hững với những khoảnh khắc vụt qua trong cuộc đời này.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Bà về với Ông

Tuổi thơ của tôi gắn liền với hai khái niệm: Hà Nội và ông bà ngoại.

Ong Ba& T.Huong

Tôi sinh ra ở Hà Nội và lớn lên dưới mái nhà của ông bà. Lúc tôi sinh ra, mẹ tôi còn là sinh viên, luôn bận rộn với việc học hành, các bài vẽ và những chuyến đi thực tế dài ngày; ba tôi làm ở toà soạn báo, thường xuyên phải trực đêm, nên việc chăm sóc, dạy dỗ tôi phải nhờ nhiều vào ông bà. Tối tôi nằm giữa nghe ông bà kể chuyện, ban ngày ông bà bày trò cho tôi chơi. Lớn lên chút nữa, bà bắt đầu dạy tôi làm việc nhà và ông dạy những bài học về cách cư xử để trở thành người Hà Nội thanh lịch. Nhờ có ông bà, tôi mới biết cách cầm chổi quét nhà, cách rửa ấm chén pha trà, cách nấu cơm bằng bếp củi, bếp dầu, cách cầm cây kim may vá… Cả những chuyện hết sức đơn giản như khách đến nhà phải chủ động chạy ra chào hỏi, mời nước;  chuyện khi ăn cơm phải xới phần cháy lên ăn trước, để phần nồi cơm tươm tất cho những người ăn sau; chuyện bước đi phải nhấc cao chân, không được lê dép lẹp xẹp… cho đến chuyện đi đường gặp đám tang thì bất luận trời nắng hay mưa cũng phải phải bỏ mũ để tiễn đưa người đi về thế giới khác. Có lẽ trẻ con sau này hiếm khi được dạy dỗ tỉ mỉ như vậy, nên người Hà Nội giờ đây không còn là người Hà Nội thanh lịch như những hình ảnh còn lưu lại trong ký ức của tôi. Tiếc thay!
Ong Ba 2 chau

Lên 8 tuổi, tôi theo ba mẹ vào Sài Gòn, bắt đầu một cuộc sống mới không có ông bà.

Thỉnh thoảng, có những lần giận ba mẹ, tôi cứ nung nấu ý nghĩ mình sẽ phải quay ra Hà Nội, vì chỉ có ông bà mới hiểu được những nỗi ấm ức mà tôi đang phải giữ ở trong lòng, vì ba mẹ suốt ngày chỉ có công việc mà không có thời gian để hiểu những tâm tư của tôi. Nhưng muốn ra Hà Nội thì phải có tiền mua vé tàu, mà tôi thì một xu cũng chẳng có, thế nên trong đầu tôi dần hình thành một kế hoạch… đi bộ. Theo kế hoạch đó, khi nghỉ hè bắt đầu, tôi sẽ nắm vài nắm cơm và cứ đi theo đường rày xe lửa theo hướng Nam – Bắc, kiểu gì thì cũng đến nơi, không sợ bị lạc. Thỉnh thoảng, tàu dừng lại hay đi chậm, tôi sẽ nhảy lên tàu, ngồi ở góc nào đó. Nếu bị phát hiện thì đến ga tiếp theo lại… xuống đi bộ! Kế hoạch hoàn hảo đó luôn nung nấu trong đầu óc non nớt của tôi. Rất may, tôi không thực hiện được vì cứ đến hè là ông bà lại vào thăm hoặc tôi lại được ra Nà Nội thăm ông bà… Cứ thế cho đến khi tôi đủ lớn để hiểu lòng ba mẹ và để biết rằng mình phải chấp nhận cuộc sống không có ông bà bên cạnh.

Ông và bà là một mẫu lý tưởng để cho không chỉ con cháu, mà bất cứ một cặp vợ chồng ở bất cứ nơi nào cũng phải ngưỡng mộ. Có với nhau 5 người con gái, 2 người con trai (không kể một cậu đã mất, còn lại tất cả 7 người đều được học hành cho đến khi thành đạt), ông bà vẫn luôn quấn quýt bên nhau bằng một thứ tình cảm mà thời đại của tôi bây giờ khó lòng hiểu được! Tôi luôn nhớ hình ảnh ông bà luôn khoác vai hoặc nắm tay nhau khi đi dạo ngoài đường, ông luôn xách túi bên bà khi đi chợ, buổi tối bà xoa lưng cho ông, rồi đến lượt ông bóp vai cho bà. Chẳng bao giờ thấy ông bà rời nhau nửa bước. Còn nhớ một lần bà có việc phải vào Sài Gòn mà không có ông đi cùng. Vài ngày trước khi bà đi, ông đã nôn nao không ngủ được. Đêm ông thức dậy viết thư cho bà. Tiễn bà ra ga xong, ông ra bưu điện bỏ thư vào thùng. 3 ngày sau, bà vào đến Sài Gòn cũng vừa lúc thư của ông đến. Tình yêu như vậy có lẽ chỉ xảy ra ở thời điểm đôi trai gái chưa cưới, đang mê đắm nhau, chứ ở hai ông bà già đã có 7 người con cùng cháu nội cháu ngoại đầy nhà thì tôi chưa từng gặp bao giờ.

Vậy mà cách đây tròn 13 năm, ông đã phải đi xa bà. Năm ấy ông 82 tuổi.

Suốt 13 năm qua, bà ngủ trong phòng có bàn thờ ông. Xung quanh phòng của bà treo đầy ảnh của các cháu, các chắt từ lúc ẵm ngửa cho đến dăm bảy tuổi. Bà nhìn ảnh ông để hàng ngày hẹn sẽ về với ông, nhìn ảnh các cháu chắt để thấy chúng lớn lên như một minh chứng cho niềm hạnh phúc tuổi già.

Mỗi lần có dịp ra Hà Nội, tôi lại chạy ào đến ôm bà, thấy bà lúc thì đeo kính, lại cầm thêm chiếc kính lúp đọc báo Văn nghệ, lúc thì ngồi xem chương trình phim truyện, không cần kính mà vẫn đọc được phụ đề lướt trên màn hình. Tôi mừng. Thầm cầu trời cho bà sống lâu trăm tuổi, biết đâu lại được chứng kiến sự ra đời của thế hệ chút chít.

Nhưng lần này ra Hà Nội, bà đã muốn đi gặp ông. Bà nằm im bất động trên giường đã 10 ngày nay, không ăn, chỉ thỉnh thoảng nhấp môi một chút nước. Mọi người hỏi Bà đã thấy ông chưa?, bà bảo thấy rồi. Tôi gọi: “Bà ơi, cháu đây!”, bà chỉ “ừ”, không đủ sức nói thêm. Vậy mà bà vẫn nấn ná chưa đi. Các dì bảo bà đang “chờ” mẹ cháu ra cho đủ mặt. Tôi gọi điện báo mẹ ra gấp. Trưa hôm sau, mẹ bay ra. Bà không “ừ” được nữa, nhưng mấp máy mắt. Hơn một tiếng sau bà đi.
Ba Ngoai

Thầy chùa xem ngày tháng bảo tang này là Hồng tang. Bà vừa nhắm mắt là có người đợi sẵn, dẫn bà đi ngay, gia quyến không nên quá đau buồn. Tôi đoán chắc ông đang đợi bà. Có thể ông đứng đợi bên chiếc xe đạp peugeot màu xám bạc quen thuộc của ông, để chở bà như ngày xưa, cũng có thể ông sẽ nắm tay bà đi bộ…

Sau đám tang bà, tôi ra sân bay để trở lại Sài Gòn. Hà Nội đang chuyển mùa, sắp sang hè. Qua cửa kính xe, tôi nhìn đám lá vàng bay đầy trên phố, biết rằng từ nay, mỗi lần đáp xuống sân bay Nội Bài, tôi sẽ không bao giờ còn cái cảm giác lâng lâng, háo hức, muốn bay ngay về căn nhà trong con ngõ nhỏ, chạy lên gác để ôm bà nói rằng: “Bà ơi, cháu đã về!”. Không còn là nơi trở về, Hà Nội với tôi từ nay và mãi mãi về sau sẽ chỉ còn là nơi đến.

Xem thêm blog Phạm Hoài Nam