.comment-block img { max-width: 300px !important; }
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

NỖI và NIỀM

Em bảo: Chiều nay em không nấu cơm. Mình ra ngoài ăn, mừng Lễ!Anh đồng ý đi, nhưng buông một câu: “Có vui gì đâu mà ăn mừng!”Trong khi chờ gọi món, anh hỏi: “Ngày ấy chắc em còn nhỏ quá, không nhớ gì đâu nhỉ?”
.................................................
Nhỏ thì đúng là nhỏ, nhưng em còn nhớ. Buổi trưa hôm ấy nóng hầm hập, mẹ đang mang bầu em Phúc, em và mẹ nằm trên giường trong căn phòng 9 mét vuông ở khu tập thể Nam Đồng, ba ngồi bên cạnh chiếc đài nghe tin tức. Bỗng nhiên, ba bật dậy reo lên: “Giải phóng Sài Gòn rồi!”. Rồi em thấy cả khu tập thể râm ran, náo nhiệt. Mọi người chạy ra khỏi phòng, chạy ra đường hò reo.
Ngày hôm sau, em về nhà ông bà. Theo chỉ đạo của Tiểu khu, mọi người đều phải chuẩn bị một chiếc cờ đỏ sao vàng bằng giấy. Ông mua giấy về làm cho cả nhà mỗi người một lá cờ, dán vào chiếc que kem làm cán. Rồi mọi người cầm cờ ra đường, hát vang và hô to khẩu hiệu. Em không nhớ là hô gì, chỉ nhớ là mình hét rất to: “Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!”.
Rồi tiếp theo vài ngày nữa, ba có lệnh của toà soạn báo cử đi công tác biệt phái vào Sài Gòn. Miền Nam là quê hương của ba. Trở về miền Nam, với ba, chắc hẳn là một niềm hạnh phúc.
Em vẫn còn nhớ được từng đó chuyện. Nói chung, trong tâm trí của em thì đó là một ngày vui.
Còn với anh thì khác. Ngày hôm đó, anh thấy xe nhà binh chạy chạy ầm ầm qua nhà anh ở đường Phan Thanh Giản – nay là đường Điện Biên Phủ – những người lính ở trên xe giơ tay chào. Ở dưới đường, mọi người nhốn nháo, hoang mang. Có vài cô, vài chị bật khóc vì không biết chuyện gì sẽ đến với những anh lính kia và đến với gia đình mình.
Tuy nhiên, ba thì rất phấn khởi. Với một niềm tin đầy lãng mạn, ba tuyên bố rằng đất nước giờ đây đã thống nhất, ba hứa sẽ dẫn má và các con đi du lịch ra phía Bắc để biết đất nước mình tươi đẹp như thế nào.
Niềm vui thống nhất của ba chưa được bao lâu, giấc mơ mà ba truyền cho các con chưa kịp ngấp nghé đến cánh cổng hiện thực thì...
... Một ngày, như cơn ác mộng – ba từ một kỹ sư sáng giá, lương tháng dư dả để nuôi gia đình một vợ, 8 con – bỗng bị biến thành một người thợ, với mức lương chỉ đủ nuôi sống bản thân. Ba đi làm từ sáng đến tối mịt, về đến nhà là mệt mỏi cáu gắt. Mấy anh em sợ hãi, chỉ còn biết nem nép không dám hó hé câu nào. Đến một ngày, nhắm không thể sống nổi, má dẫn mấy đứa nhỏ về quê ngoại. Ba cùng mấy anh lớn ở lại thêm một thời gian rồi cũng phải nghe theo má, quyết định rứt ruột bán căn nhà của mình – ngôi nhà từ hồi ông bà nội để lại mà gia đình đã sinh sống, đã từng có với nó biết bao kỷ niệm.
Năm ấy, anh đã 11 tuổi nên ký ức vẫn còn rất rõ ràng. Với anh, ngày tháng tư năm ấy là ngày mở đầu cho một quãng thời gian thật buồn.
.................................................
Suốt bữa ăn, anh và em cùng yên lặng. Chỉ có con trai là cười nói phấn khởi vì được ăn ngon.
Nhìn con, em nghĩ: thì thôi, những gì đã qua hãy để cho lắng xuống. Mình hãy vui vì có một ngày tháng Tư năm xưa đã làm nhân duyên để gia đình mình được ở bên nhau, tháng Tư này...

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10203922903377702&set=a.1383927282959.2057032.1375304149&type=1

Dưới đây là bài viết của bạn Nguyễn Thuý Hà, một trong những người bạn mà mình rất yêu quý. Copy vào đây để lưu.

Âu cũng tại bác Hậu Khảo Cổ

đã định đi ngủ sớm (đêm nay Elle hết sốt, chắc mẩm mẹ sẽ được một đêm thẳng giấc) mà lại thấy còm của bác Hậu, còm trả nhời xong lại tiện tay phóng sang nhà bác tí, rồi cái tí này lại làm mất ngủ luôn sau khi đọc mấy bài liên quan đến 30 tháng 4 và nhất là bài "MỘT NGÀY KHÔNG NHƯ MỌI NGÀY"của bác Hậu. Tự nhiên muốn viết. Muốn viết cho mình quá! Bây giờ đã là 2giờ sáng ngày 30/4 giờ Cali. Tại sao mình lại ở đây? Mình theo chồng! Thế, chồng tại sao ở đây? cũng vì ngày 30/ 4. Ngày này bên kia phố phường tưng bừng cờ đỏ thì bên đây trên con đường Bolsa khu Little SaiGon cũng phấp phới cờ vàng. Bên kia hoan hô thì bên nay đả đảo. Ngày này khi bạn bè mình bên kia vẫn đang chạy đua chặng cuối của lớp cao học chính trị mà trong đó ắt có môn "Tư tưởng Hồ Chí Minh" thì bên này sáng nay mở một kênh truyền hình tiếng Việt thấy đùng đoàng bộ phim "Sự thật về Hồ Chí Minh"... Cứ đến ngày 30/ 4 bên đó, bên này, hoan hô, đả đảo, vết thương lại ứa "đã thôi cấp tính- đã thành kinh niên".
Mình ước ao có những ngày 30/ 4 thôi cờ giong trống mở, cờ trống thời bình có khi chính là gươm giáo. Bén ngọt vết thương.
“Không một điều gì, không một ai bị lãng quên”. Nhưng vấn đề là NHỚ như thế nào…
“Năm tháng trôi qua, các cuộc chiến tranh sẽ thôi gào thét… chỉ còn tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng…”. Bao giờ những ngày Tháng Tư này sẽ là Ngày Hòa Hợp, Hòa Giải của chúng ta?"(trích "Một ngày không như mọi ngày")
Bao giờ?
Mình đọc câu thơ
"dân tộc này
vĩnh viễn không còn nói chuyện với nhau nữa..." của bạn Bùi Dzũ cũng từ trang nhà bác Hậu mà không muốn tin là như thế. Câu chuyện Bắc- Nam trong mỗi gia đình Việt có những rối bời đắng chát nhưng không phải cuối cùng là câm tịt "không còn nói với nhau được nữa". Ông Nội mình và ba mình 2 đời đảng viên CS, ông Nội chồng và ba chồng 2 đời cảnh sát quốc gia VNCH. Chỉ 2 năm sau ngày "giải phóng"- ba chồng chết trong trại cải tạo, má chồng nuốt nước mắt một mình gồng gánh 5 đứa con thơ... Ngày chồng quyết định về VN cưới mình, má chồng kịch liệt phản đối và bảo: "Con nghĩ sao nếu ba con còn sống?" Chồng đáp gọn bân: "Ba còn sống là ba cho con cưới liền!". Chuyện này chính má chồng kể lại cho mình nghe- trong chuỗi những chuyện xưa chuyện nay mà bà đã mở lòng khi bắt đầu chấp nhận gọi con xưng má với mình.
Đúng là với bà- không điều gì bị lãng quên- nhưng vấn đề là NHỚ như thế nào- mình cũng thế. Nhớ để mà sống tốt hơn với nhau chứ không phải để mài giáo, tuốt gươm, cờ giong trống mở...
Nên mình tin rằng dân tộc này vẫn còn nói chuyện được với nhau
và sẽ có những ngày THÁNG TƯ thôi tùng xèng, há chị Hậu?
mà tình yêu là một nhịp cầu.

Ảnh của Hà Tuệ Hương.

Đưới đây là một bài viết của bạn Nguyễn Thuý Hà, một trong những người bạn mà mình rất yêu quý. Cop vào đây để lưu.




Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Ngày 19/8/2014

Nghe nói sắp phải chia tay vĩnh viễn với Thương xá Tax, mình nói với mấy đồng nghiệp trong phòng rằng chắc phải xách máy ảnh đi chụp Tax, sẵn, đi một vòng quanh khu vực ấy trước khi mọi thứ biến mất. Mọi người thì bảo ở đó đang bán hàng giảm giá đến 50% đấy, tranh thủ ra mua đi.

Mấy chị em xin giấy ra ngoài, lý do “đi chụp ảnh tư liệu”, rồi đáp taxi “ra Sài Gòn” để khỏi phải loay hoay với việc gửi xe. Ra đến nơi, cái đập vào mắt mình là cả khu vực trung tâm Lê Lợi, Nguyễn Huệ đã bị quây rào kín, không còn thấy quang cảnh gì ở quanh bùng binh phun nước nữa, chỉ thấy người, người, người. Ôi chao, cơ man nào là người chen chúc, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, hùng hục xông vào bới những đống hàng giảm giá đang đổ tràn ra nền nhà. Có rất nhiều bảo vệ đi qua đi lại, thỉnh thoảng lại dùng loa cầm tay nhắc nhở mọi người cẩn thận kẻo kẻ gian móc túi. Ôi, Sài Gòn “của mình”, Thương xá Tax “của mình” trước ngày từ biệt lại trở nên thế này sao?

Mình đi một vòng từ cửa trước ra cửa sau, từ tầng trệt lên tầng 3, rồi lại từ tầng 3 xuống tầng trệt với cảm giác khó tả. Trời nóng bức, mệt. Trong khi chờ các bạn mua sắm, mình ra cửa, ngồi ở trước một ô cửa kính, chỗ có bày tấm bảng quáng cáo to đùng. Nhớ hồi xưa, chính nơi ấy có cửa hàng kem Bắc Cực.

Hồi những năm bảy mấy, cụm từ “đi chơi Sài Gòn” luôn là cụm từ làm cho hai chị em mình sung sướng. Thỉnh thoảng vào buổi tối, ba lấy xe vespa chở cả ba mẹ con ra đây. Việc đầu tiên là ba đưa cho mình một vốc tiền xu – những đồng xu mệnh giá 5 đồng có hình cánh hoa và 10 đồng in hình bông lúa ở mặt sau để mua kem Bắc Cực.


Cho đến bây giờ thì hình như kem Bắc Cực vẫn là loại kem ngon nhất mà mình từng được biết đến. Có lẽ kem cũng khá đắt nên ba mẹ thường không ăn. Cầm cây kem trên tay, hai chị em sang đường, ngồi cạnh hồ phun nước (chỉ thứ bảy, chủ nhật mới phun), vừa thưởng thức vị ngọt lịm của kem, vừa ngắm Sài Gòn lung linh.


                            
   (Ảnh nguồn: Internet)

Lớn lên một chút, vào những năm tám mấy, kem Bắc Cực không còn nữa, thay vào chỗ đó là Cửa hàng Bách hoá tổng hợp. Thời buổi khó khăn, nên dù cửa hàng chỉ lèo tèo bán những loại đồ dùng phục vụ nhu cầu tối thiểu, nhưng đám trẻ con cấp 2, cấp 3 tụi mình cũng vẫn thích thỉnh thoảng đạp xe ra đó để ngắm chơi, thòm thèm nhìn những thứ mà biết mình sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để mua. Ngắm chán chê rồi thì đạp xe vòng vòng “quanh Sài Gòn” – chẳng biết để làm gì, nhưng thích thì vẫn thích lắm!



 (Ảnh nguồn: Internet)

Vào Đại học, mình đi học ở Thủ Đức, một tuần mới về Sài Gòn một lần, thời gian ở chỉ vỏn vẹn chưa đầy 1 ngày chủ nhật, nhưng mình thường không nén nổi cái thú đạp xe ra trung tâm, vào cửa hàng bách hoá tổng hợp cũ – lúc này đã được trả về tên xưa là Thương xá Tax. Mình đi lang thang trong cửa hàng cả tiếng đồng hồ chủ yếu cũng là để ngắm, thỉnh thoảng chỉ dám mua những món đồ thật rẻ. Đời thế mà vẫn vui, Sài Gòn thế mà vẫn đẹp.



 (Ảnh nguồn: Internet)

Và hôm nay, mình lại đi lang thang, cảm giác bước chân đang giẫm lên từng centimet kỷ niệm xưa – nghe thì “sến rện”, nhưng chẳng biết dùng từ nào khác. Muốn chụp “Sài Gòn của mình” mà chẳng có góc nào để chụp. Định quay vào chụp cái cảnh hỗn loạn trong lòng thương xá Tax, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thấy không đành! Trời đổ cơn mưa rào giống như hàng trăm ngàn cơn mưa rào đã từng qua đây. Chỉ có mình – đang ngồi ngáp trước cửa thương xá Tax -  là khác, và nơi này, chỉ một thời gian ngắn nữa thôi cũng sẽ là nơi khác.

Có một cậu bảo vệ mặt non choẹt đứng trước mặt mình: “Cô ơi, xin mời đi chỗ khác, đừng ngồi trước biển quảng cáo!”

Thế à! Vậy thì về thôi! Vĩnh biệt thương xá Tax của một thời đời mình đẹp và “Sài Gòn của mình” còn đang đẹp!

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Tay nào có, tay nào không

Tôi yêu lần đầu tiên vào năm 16 tuổi. Nhưng tôi không định kể về mối tình đầu ấy của mình đâu. Có một mối tình khác, trước đó, xa hơn kia! Một mối tình chẳng phải tình yêu, nhưng để tìm một từ khác để diễn tả nó thì cũng thật khó.
Đó là khi tôi lên… 7 tuổi.
Tôi và cậu ấy học cùng lớp Một với nhau. Hai đứa học giỏi gần như ngang nhau, thậm chí cậu ấy còn có phần nhỉnh hơn tôi một chút, nhưng chẳng hiểu sao cô giáo lại chọn tôi làm lớp trưởng. Làm lớp trưởng, có nghĩa là tôi được phép đứng trước hàng, quay mặt về phía các bạn – trong đó có cậu – hô: “Các bạn, nghiêm! Xếp thành hàng đôi, so hàng, đằng trước, thẳng! Bước vào lớp!”. Tôi rất thích thú khi chứng kiến cậu ấy phải làm theo lệnh của mình.
Sở dĩ tôi thích thú là vì những khi không ở trong lớp học, cậu ấy luôn hơn tôi về nhiều mặt. Cậu ấy cao hơn tôi, chơi bắn bi giỏi hơn tôi, chạy nhanh hơn tôi, và cậu ấy còn biết thắt dây giày thành cái nơ trông rất đẹp, còn tôi thì học mãi mà chẳng thắt được đẹp như thế. Ở ngoài, tôi lép vế như vậy, nên vào lớp tôi phải tranh thủ “ra oai” với cậu. Chẳng biết cậu có bực không, nhưng thỉnh thoảng khi tôi bị tuột dây giày, cậu ấy vẫn ra tay nghĩa hiệp giúp buộc nó lại.
Cậu ấy đọc sách rất nhiều và tranh thủ đọc bất cứ lúc nào nếu vớ được một cuốn sách hay. Có vài lần, trên đường đi học về, cậu vừa đi vừa đọc sách, đến nỗi đâm sầm cả vào cột điện. Đọc sách nhiều nên cậu nói năng mạch lạc, câu nào ra câu ấy, đến nỗi mấy đứa bạn vừa thán phục, vừa bực dọc, đặt cho cậu cái biệt danh là “Cụ Non”. Từ bây giờ, ta sẽ gọi cậu bằng cái tên ấy.
Tôi và Cụ Non hay cãi nhau, chủ yếu là cãi lý. Tỉ như tôi khen: “anh Đê-a-nôp (*) đẹp trai, ai cũng phải công nhận điều đó” thì thế nào Cụ Non cũng bảo “Đẹp hay không là do bạn nhìn chứ không phải là do anh ấy đẹp thật. Ví dụ mình đi xem tranh ở triển lãm, bạn ngắm một bức tranh thấy đẹp, nhưng tôi lại chẳng thấy đẹp thì sao!”. Hoặc giả tôi và Cụ Non hẹn nhau đúng 12 giờ rưỡi sẽ đi học. Nếu Cụ Non ghé nhà rủ tôi đi, lúc 12 giờ 29 phút thì dứt khoát tôi chưa đi, còn Cụ Non thì dứt khoát đi trước.
Hay cãi nhau như vậy, nhưng chúng tôi thân nhau lắm, chỉ cần xa nhau mấy ngày là nhớ. Có lần, tôi được đi Đồ Sơn vài ngày, tôi nhớ Cụ Non đến nỗi quyết định phải mang nước biển về cho Cụ Non nếm thử. Tôi đã phải ôm khư khư một lọ nước biển từ Đồ Sơn về đến Hà Nội, và hai đứa ngồi trước bậc thềm, mỗi đứa cầm một que tăm, chấm mút nước biển trong lọ. Chỉ thế thôi là đủ vui lắm rồi.
Lần khác, hai đứa giận nhau. Chúng tôi giận nhau đến nỗi đã đưa ngón út ra ngoéo tay nhau – dấu hiệu để thề là sẽ không bao giờ thèm chơi với nhau nữa. Nhưng chỉ được mấy ngày, cả Cụ Non và tôi đều nhận ra mình đã ngu ngốc đến chừng nào. Rồi, chắc là không chịu được nữa, Cụ Non đến gặp tôi. Cậu đưa 2 nắm tay ra trước mặt tôi, bảo:
- Bạn chọn đi, nếu chọn đúng tay nào có hạt đậu thì chúng mình chơi lại với nhau, còn nếu chọn tay nào không có gì thì mình bỏ nhau luôn!
Tôi hồi hộp lắm, nhưng cũng rụt rè chọn một nắm tay. Cụ Non xòe tay ra mỉm cười – không rõ là với tôi hay với hạt đậu nho nhỏ nằm trên đó.
Mãi sau này, tôi mới biết là Cụ Non ăn gian. Cả hai nắm tay Cụ đều có hạt đậu.

Ngày tôi phải rời Hà Nội vào Sài Gòn, một trong những nỗi mất mát lớn nhất của tôi là phải xa Cụ Non. Tôi đi mà không dám gặp cậu để chào từ biệt vì tôi sợ mình sẽ òa khóc và không có cách nào nín được.
Suốt những năm đầu xa nhau, tôi và Cụ Non vẫn trao đổi thư từ thường xuyên, chỉ đến khi tôi bắt đầu có người yêu thì thư từ mới thưa dần. Ngày tôi vào Đại học, Cụ Non gửi thiệp kèm theo lời chúc tôi học giỏi. Cậu thì không vào đại học mà rẽ ngang sang trường trung cấp chuyên nghiệp để có thể sớm đi làm, phụ giúp gia đình.
Tôi bước vào trường đại học, làm quen với môi trường mới, với những người bạn mới. Rồi tôi lần lượt yêu vài người. Ra trường, cũng giống như hầu hết bạn bè, tôi đi làm vài năm rồi kết hôn, nhưng ký ức về Cụ Non với một hạt đậu nhỏ bé, dễ thương đến nao lòng vẫn còn theo tôi mãi.
Nhiều lần tôi có dịp đi công tác ở Hà Nội, nhưng không hiểu sao, tôi không có ý định tìm gặp lại Cụ Non. Có lẽ là do đã từ lâu, chúng tôi không còn trao đổi thư từ với nhau, tin tức không được cập nhật và giữa hai đứa cũng không còn có những vấn đề chung nữa, nên nghĩ đến chuyện gặp nhau là tôi ngại. Tuy nhiên, Hà Nội quá nhỏ để tôi có thể tránh mặt Cụ Non. Một lần có việc đi ngang qua nhà, tôi gặp bố Cụ Non đang quét sân. Tôi chào ông. Ông giữ tôi lại một lúc lâu để hỏi thăm tình hình. Câu chuyện về việc tôi ra Hà Nội lập tức đến tai Cụ Non. Ngay chiều ấy, Cụ đến gặp tôi. Chúng tôi đi ăn bún chả Hàng Mành, đi uống cà phê, trò chuyện đủ thứ trên đời, kể cho nhau nghe chuyện công việc, chuyện gia đình, con cái… Khi chuẩn bị ra về, bỗng dưng Cụ Non nắm lấy tay tôi. Chưa kịp định thần, tôi nghe cậu ta nói nhỏ, gần như thì thầm:
- Trời nóng quá, chúng mình tìm một phòng khách sạn tâm sự đi, bạn!
Tôi ngỡ ngàng đến nỗi chẳng nói được lời nào. Nhìn đôi bàn tay Cụ Non, phút chốc một đoạn phim thật dễ thương lướt qua trong tâm trí tôi. Trong đoạn phim đó có một đôi bàn tay nhỏ bé đã nắm chặt hai hạt đậu kỳ diệu – mầm sống mà tôi luôn nâng niu suốt mấy chục năm qua như một báu vật của tuổi thơ.
Đoạn phim kết thúc. Hai hạt đậu rơi xuống đất và tôi biết mình sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy nó lần nữa trong đời.


(*) Tên nhân vật chính trong phim truyền hình nhiều tập Trên từng cây số được chiếu trên Truyền hình VN những năm 70.

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

“Cuối cùng cho một tình yêu” (*)

Mình sinh ra ở miền Bắc XHCN trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nên – như tất cả mọi người sống trong thời đó – mình coi nước nga như một thiên đường. Mình yêu Kachiusa và những điệu nhảy dân gian Nga, yêu Liev Tolstoi với Chiến tranh và hòa bìnhAnna Karenia, yêu những anh chàng Ivan chân chất, hiền lành, tốt bụng. Tóm lại, nước Nga là nơi mình luôn mơ đến. Còn nhớ những năm 15-16 tuổi, mình thường len lén cắt hình ảnh những thanh niên Nga mắt xanh, tóc vàng, đẹp trai ngời ngời, cất vào đâu đó giữa những trang sách để thỉnh thoảng lấy ra ngắm nghía và thầm mơ một ngày nào đó, mình sẽ kiếm được một anh như vậy làm chồng. Rồi thì thư từ, kết bạn với những cô bạn Vanhia, Natasa. Liuba thật dễ thương ở mãi tận Krasnodar, Rostov, Vologda… Rồi thì tham gia những cuộc thi tìm hiểu về nước Nga Xô Viết, cũng được lĩnh giải ba, tư gì đó. Lên đến đại học, chương trình của ta bắt buộc học ngoại ngữ Nga. Mình vui sướng tiếp nhận ngôn ngữ ấy như một điều đương nhiên phải thế, thậm chí suốt 4 năm học thời đó, hình như mình được điểm rất cao và thi tốt nghiệp đã đạt đến điểm tối đa. Nhạc Nga thì mình mê lắm. Đến bây giờ, trong ổ cứng của mình vẫn còn lưu giữ vài trăm ca khúc Nga do chính người Nga biểu diễn.

Người xưa vẫn bảo Yêu nhau yêu cả đường đi…

Vậy mà bây giờ…, dường như tình yêu đó đang bị phản bội.

Mình đã đủ nhận thức và đủ… già để hiểu là không có thứ tình yêu viển vông dành cho một đất nước nào đó. Tất cả chỉ là lợi ích quốc gia được đặt lên trên hết. Nhưng không hiểu sao, những ngày này, có gì đó vẫn làm cho mình buồn khôn tả.

Nhà thơ Nga Yevtushenko đã từng thảng thốt:
Những bí ẩn tuổi thơ tan biến
Như những bến bờ sáng sớm mù sương...
Thuở những Tô - nhi - a, Ta - nhi - a duyên dáng
Bí ẩn đi nhón gót giữa sân trường…
                                                          (Bằng Việt dịch)

Giờ thay từ “Bí ẩn” thành từ “Tình yêu” thì có lẽ cũng hợp với tâm trạng của mình lúc này. Một chút luyến thương, một chút cay đắng một chút ngậm ngùi… vừa đủ để đưa tiễn tình yêu của một thời tuổi trẻ chỉ biết đến những điều tốt đẹp trong ngần.

Chào nhé những Ruslan và Ludmila của miền cổ tích Nga. До свидания!


(*) Tên một bài hát của Trịnh Công Sơn

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

Có những nỗi đau chẳng giống ai


Thế giới này có ba phần tư diện tích là nước. Nhà mình có ba phần tư đồ đạc là sách. Sách nhà mình có ba phần tư tổng số là… của mình.

Người ta bảo “Cháy nhà mới ra mặt chuột”, còn mình thì bảo “Sửa nhà mới ra mặt sách”. Trời đất ạ, cơ man nào là sách, dọn đến mấy ngày vẫn không xong! Chồng mình mồ hôi mồ kê nhễ nhại, mặt mày hầm hầm, liên tục cằn nhằn: “Em phải xem lại, bỏ được gì thì bỏ đi, chỗ đâu mà chứa!” Mình cũng mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chẳng nói chẳng rằng, cứ lầm lũi buộc buộc, xếp xếp, nhồi chặt vào các thùng carton. Nhưng rồi cũng đến lúc không thể nhồi nhét được nữa, đành phải bỏ bớt.

Đầu tiên là các loại tạp chí Mỹ thuật, Nhiếp ảnhNgười đưa tin Unesco “lên đường”. Mình đã cất công sưu tầm hai loại tạp chí này trong nhiều năm tuổi trẻ. Cuốn nào bình thường thì đã loại bỏ, chỉ giữ lại những cuốn hay. Vậy mà bây giờ tập hợp lại cũng thành một đống ngất ngưởng, chỉ tổ sướng mấy bà thu mua ve chai!

Xếp thứ hai trong danh sách loại bỏ là các loại sách nghiên cứu phê bình văn học. Nhớ hồi xưa, lúc còn học ở trường TH, sách này đâu dễ kiếm! Lứa tụi mình phải đi lùng từng quyển ở khắp nơi. Mài đũng quần trong thư viện của trường không đủ, phải chạy sang thư viện ĐH Sư phạm, vờ trà trộn với sinh viên Sư phạm để được mượn sách đọc. Rồi ròng rã những ngày mang khúc bánh mì vào thư viện Khoa học Tổng hợp, Khoa học xã hội, mượn cuốn sách xong rồi đọc ngấu nghiến, quên cả ăn, trưa mệt quá thì lăn ra hành lang thư viện mà ngủ… Những cuốn sách thời đó sao mà quý giá làm vậy! Sau này, khoảng một năm sau khi ra trường, có lần đi ngang qua nhà của một thầy giáo, mình tình cờ bắt gặp một bà ve chai đang mua lại đúng những cuốn sách quý giá một thời ấy. Sau mấy phút ngỡ ngàng do dự, đi qua rồi quay lại, cuối cùng mình đề nghị bà bán lại toàn bộ chỗ sách ấy cho mình với giá không hẳn là rẻ, nhưng có thể là quá rẻ so với niềm vui sướng của mình lúc đó. Vậy là mình được sở hữu khoảng 50 cuốn sách mơ ước. Mình đem về nhà, cất kỹ và từ đó đến nay không một lần nào… mở ra xem lại. (Mời đọc bài Lan man chuyện… Chim  tại đây).

Đứng thứ ba là các loại sách mình “tha” về từ các cửa hàng sách cũ. (Mời đọc bài Sách cũ tại đây). Rất nhiều cuốn mình bỏ tiền ra mua vì lý do đơn giản: trên trang đầu cuốn sách có lời đề tặng. Ai đó đã tặng cho ai đó trong một chiều Sài Gòn đẫm nước mưa, trong một chuyến đi công tác xa về, trong một dịp kỷ niệm đáng nhớ… Ai đó đã tặng cho ai đó khi đứa con tinh thần của họ được xuất bản, khi niềm hạnh phúc còn tươi mới, những lời đề tặng chan chứa yêu thương… Thế rồi vì những lý do nào đó, những cuốn sách không còn được đặt trên giá mà lại phiêu bạt đến một nơi bụi bặm ẩm thấp, nằm lẫn giữa vô số các loại sách tạp nhan khác. Mình mua về vì không đành lòng nhìn thấy chúng nằm phơi ra đó như phơi bày những điều phũ phàng, trần trụi. Mình cố làm một điều gì đó… chắc là để giữ lại một chút lãng mạn còn sót lại… Nhưng bây giờ thì không thể nữa, đành để cho chúng ra đi! Đôi khi ta có thể phải gạt đi điều tốt đẹp này để đổi lấy sự bình yên khác, dẫu trong lòng day dứt lắm.

Sách vẫn còn quá nhiều. Chồng tiếp tục cằn nhằn. Mình lại phải xử lý đống sách cũ giấy đã ngả sang vàng nâu như màu bánh tráng nướng, chỉ cần đụng nhẹ vào là các trang sách rơi ra tơi tả. Toàn những cuốn sẽ đứt từng khúc ruột nếu phải bỏ đi. Đó là những cuốn sách đầu tiên trong đời khi mình biết đọc như Không gia đình, Túp lều bác Tôm, Truyện cổ An-đec-xen, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Mái trường thân yêu…, đến những cuốn gắn liền với một thời tuổi trẻ như Những người khốn khổ, Tuổi mười bảy, Hãy để ngày ấy lụi tàn, Chiến tranh và Hòa bình, Con đường đau khổ… Hầu hết sách này đều có chữ của ba, mẹ, ông, bà, các dì các cậu ghi giúp tên mình ở trang bìa lót, hoặc trịnh trọng hơn nữa là những lời đề tặng “Tặng cháu TH yêu quý nhân dịp…”. Một nửa trong số đó đã theo mình suốt chiều dài hơn 1.700 cây số từ Hà Nội vào Sài Gòn và đã ở bên mình suốt 40 năm nay. Mình nhắm mắt xé các trang bìa lót mang những dòng chữ thân thương ấy và để kệ đống sách cho chồng muốn làm gì thì làm chứ mình không đủ can đảm tự tay vứt đi.

Trời vào hè nóng rẫy. Nóng quá nên dường như không kìm nén được thêm nữa, trời đành đổ một cơn mưa nhỏ. Mình đứng trên lan can nhìn xuống đường, thấy bà mua ve chai đang vội vã phủ tấm bạt che đống sách và đẩy chiếc xe chở đầy kỷ niệm của mình đi khuất dần. Có gì đó đang trôi đi cùng với cơn mưa, cũng có gì đó không thể trôi đi đâu được. Ừ thì trên đời vẫn có những nỗi đau chẳng giống ai mà!

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Cái kệ sách


Mình sắp phải sửa nhà. Cực chẳng đã mới sửa nhà, chứ mỗi lần sửa là một lần tốn kém tiền bạc và tổn hao sức khỏe, nhưng nhà mình xuống cấp trầm trọng quá rồi, không sửa không được.
10 năm trước, lúc vợ chồng con cái mình rời nhà mẹ, dọn về đây ở, em đã kiên quyết mang theo một cái kệ sách cũ  - cái kệ mà theo như lời anh thì đáng phải chẻ ra làm củi đun từ lâu rồi. Anh hỏi sao em cứ nhất định phải giữ nó. Em trả lời rằng hè năm thứ nhất đại học, em đi làm thêm, cái kệ đó là toàn bộ tháng lương đầu tiên của em. Em nói mà không nhìn anh, nhưng vẫn cảm giác ánh mắt anh nhìn em là lạ. Anh khẽ thở dài, rồi im lặng, không nói gì nữa. Chỉ có một lần, giữa bữa nhậu với bạn bè, anh buột miệng chỉ cái kệ sách, bảo: “Tui nói vợ tui bỏ cái kệ kia đi, nhà mới mà cứ giữ cái kệ cũ làm chi. Nhưng vợ tui không chịu! Chắc là hồi xưa được bồ tặng!”. Anh nói một cách thản nhiên, không ra đùa, cũng không biểu lộ trạng thái tình cảm gì.
Lần này nhà mình sắp phải sửa, sắp phải dọn dẹp, bỏ bớt đồ cũ. Hôm qua, em thoáng thấy anh đứng trước cái kệ sách cũ của em… Em lặng lẽ lảng ra chỗ khác.
… Tháng lương đầu tiên của mùa hè năm nào đó, em có mua một chiếc kệ sách. Nó không phải chiếc kệ này, và sau mấy lần mẹ sửa nhà, nó đã lưu lạc đâu đó, em thậm chí chẳng nhớ nổi!
Còn mùa hè năm ấy, năm thứ 3 đại học, em đã có chiếc kệ này. Chính nó đấy. Nó không phải là hàng bán sẵn. Đầu tiên, nó là những tấm gỗ cây sần sùi (thời ấy chưa xuất hiện gỗ ép tiện lợi như bây giờ). Những tấm gỗ ấy được mua bằng tiền dành dụm của một chàng sinh viên nghèo – nghèo lắm – nếu so với chuẩn nghèo của thời nay. Nó được chở về nhà, được cưa cưa đục đục bằng những dụng cụ mộc không chuyên. Suốt cả một tuần lễ, người ấy đã đổ mồ hôi, đổ công sức đánh vật với những tấm gỗ. Người ấy còn đi ngắm nghía, vẽ ra kiểu nọ kiểu kia, mà nếu một người bình thường nhìn vào có thể thấy nó chẳng giống ai! Em không bao giờ quên được cánh tay gầy, nổi đầy gân xanh – kết quả của những ngày dài ăn không đủ no với những phần cơm ký túc xá đạm bạc – vẫn cố hết sức điều khiển chiếc cưa cùn để cưa cho đứt rời miếng ván. Buổi sáng, buổi chiều, người ấy kỳ cạch đục, gõ, đóng…, còn buổi trưa, lúc em ngủ, người ấy thức, rón rén đo đo vẽ vẽ để khỏi làm ảnh hưởng đến em. Em nằm thiu thiu ngủ bên cạnh đống gỗ ngổn ngang, ngửi mùi hăng hắc của những vỏ bào, thỉnh thoảng hé mắt liếc nhìn đôi vai chưa đủ rộng để thành một người lớn thực thụ. Em nhìn lưng áo ướt đẫm và những giọt mồ hôi không kịp lau, rớt đầy trên các thanh gỗ, tạo thành những “hoa văn” kỳ dị. Em hiểu, nếu không có một tình yêu trong vắt đến ngây thơ thì chẳng ai tự bắt mình phải đổ nhiều mồ hôi đến vậy.
Chiếc kệ sách của em ra đời như vậy đó. Nhưng rồi trên đời này có muôn vàn lý do để những người bạn, những người yêu chia tay nhau. Một năm sau, em chia tay với người ấy. Chiếc kệ sách được kê ở góc bàn làm việc của em. Một lần, em đi xa nhà khoảng 2 tuần. Khi trở về, em thấy chiếc kệ của mình bị cưa đi hết những phần được coi là “kỳ quặc”, trông nó đơn giản, bình thường như tất cả những chiếc kệ bình thường khác. Mẹ bảo sẵn có ông thợ mộc đến nhà làm mấy thứ đồ gỗ lặt vặt, mẹ nhờ ông cưa đi cho đỡ ngứa mắt. Em đã bỏ vào phòng và khóc. Em khóc rất lâu vì giận mẹ, vì nhớ đến tấm vai chưa thành người lớn, nhớ cánh tay nổi đầy gân và những giọt mồ hôi không phải của em. Hi hi. Nghĩ lại thấy buồn cười. Nhưng em dám chắc rằng em sẽ không bao giờ để con mình phải khóc vì những chuyện tương tự. Đa số các vết thương đều sẽ tự lành sau một thời gian, nhưng tốt nhất là không nên có các vết thương, anh nhỉ!
Gần 20 năm ở bên anh, anh đã cho em nhiều thứ, trong đó phải kể đến rất nhiều kệ sách được kê, treo ở khắp các bờ tường từ nhà dưới lên nhà trên. Cám ơn anh nhé! Anh biết đời em gắn liền với sách và em không thể sống thiếu những chiếc kệ mà! Chuyện xưa thì em quên từ lâu rồi. Em không còn nhớ bờ vai xưa, đôi tay xưa, những giọt mồ hôi xưa ấy nữa. Và chắc chắn em sẽ quên hẳn nếu như hôm qua em không nhìn thấy anh đứng trước cái kệ sách.
Mình sắp sửa nhà. Bao nhiêu việc phải lo: nào tiền bạc, nào thời gian, nào kế hoạch, nào các loại thợ xây, thợ mộc, thợ sắt, thợ điện…, vậy mà việc đầu tiên làm em loay hoay lại là cái kệ sách cũ. Thật không công bằng với anh khi em cứ muốn giữ nó ở trong nhà, nhưng cũng thật không công bằng với em nếu ngày mai, nó bị mang sang dãy nhà trọ hàng xóm để họ chẻ ra làm củi.
Em nghĩ mông lung về những dòng sông chảy mãi mà ta chỉ có thể tắm một lần duy nhất. Chỉ là mông lung vậy thôi, không buồn, không tiếc, không thương nhớ.
Nhưng…
Liệu em có thể cất một giọt nước thật nhỏ vào đâu đó thật sâu trong ký ức, để thỉnh thoảng mơ về dòng nước trong vắt đã một lần chảy qua đời mình không nhỉ?

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Thiệp Tết


Tết đang gần kề. Tôi vào nhà sách tần ngần đứng trước một rừng thiệp muôn màu muôn vẻ. Nhiều công ty thiết kế quảng cáo đã đầu tư làm thiệp Tết rất đẹp, đủ để làm cho đám Designer  mỗi lần đi qua đều phải dừng lại nhìn ngắm một chút trước khi chặc lưỡi “không biết mua làm gì” rồi bước mới tiếp, trong bụng nghĩ: chắc về nhà, mình phải thiết kế vài cái đẹp hơn thế này gửi tặng bạn bè, tiện thể PR luôn.
Trước đây, năm nào cũng vậy, cứ vào dịp trước Tết khoảng 2 tuần là tôi lại đi tìm mua những tấm thiệp đẹp nhất để gửi cho ông bà ngoại ở Hà Nội. Không phải tự tôi nghĩ ra chuyện này. Từ ngày tôi còn là một con bé học mẫu giáo, ở cùng nhà với ông bà, tôi đã thấy ông bà làm như vậy. Chỉ có điều khác là ông không đi mua thiệp ở cửa hàng, mà tự tay ông làm những chiếc thiệp rất đẹp rồi ông bà cùng nắn nót những dòng chúc Tết gửi cho bạn bè, người thân. Năm lên 8 tuổi, tôi phải rời xa ông bà để vào Sài Gòn. Cứ mỗi độ Tết đến, tôi lại bắt chước ông, ngồi tô tô vẽ vẽ những chiếc thiệp có hoa mai, hoa đào… Gửi thiệp ra Hà Nội xong, tôi được nhận lại chiếc thiệp Tết của ông bà gửi vào với những lời yêu thương mà không phải đứa trẻ nào cũng diễm phúc có được. Thế rồi năm tháng trôi qua, tôi không còn thời gian rảnh rỗi nữa, hoặc có rảnh rỗi thì cũng không bỏ công ra làm những chiếc thiệp chỉ dùng được một lần. Tôi bắt đầu đi mua thiệp cho tiện. Gõ bàn phím đã quen, nên chữ viết của tôi mỗi ngày một xấu đi, nhưng khi đặt bút lên chiếc thiệp xinh xắn còn thơm mùi giấy, tôi vẫn cố gắng viết thật nắn nót “Ông, Bà yêu quý của cháu…”.
Rồi một ngày Ông mất, những chiếc thiệp của tôi chỉ còn ghi: “Bà yêu quý của cháu”.
Còn nhớ mấy năm trước, cũng vào dịp giáp Tết, tôi mắc một căn bệnh kỳ lạ: mất cảm giác một phần mặt và lưỡi. Đi khám bệnh, bác sĩ lập tức chỉ định đi chụp MRI đầu vì nghi có khối u trong não. Lúc ấy máy chụp MRI còn ít, muốn chụp phải đăng ký, chờ đợi có khi phải đến mấy ngày, khi nào đến lượt thì phòng chụp sẽ gọi. Tôi đã chờ đến ngày thứ hai vẫn chẳng thấy bệnh viện gọi. Không hề thông báo với bất cứ ai trong gia đình, một mình – với đầu óc mụ mẫm vì những ý nghĩ tiêu cực - tôi chẳng còn tâm trí đâu mà làm việc nên bỏ cơ quan, đi lang thang trong nhà sách, chọn cả tiếng đồng hồ mới tìm được mấy chiếc thiệp ưng ý. Tạt vào một quán cà phê, tôi mở chiếc thiệp ra, cố viết nắn nót “Bà yêu quý của cháu…” Nhưng càng nắn nót, tôi lại càng thấy chữ mình thêm nguyệch ngoạc, các nét chữ như nhoè nhoẹt hơn. Bỏ đi 2 chiếc thiệp viết hỏng, tôi nhắm mắt, trong đầu chợt nghĩ có khi nào đây sẽ là lần viết thiệp chúc Tết cuối cùng trong đời mình không? Quán cà phê vắng khách, buổi chiều lãng đãng trôi trong cái ngột ngạt, căng thẳng chờ đợi một cuộc gọi từ bệnh viện. Tôi bỗng nhớ Ông ngoại. Mỗi lần tôi buồn chán, thất bại hay muốn từ bỏ một việc đang làm dở, ông lại động viên: “Ông tin là cháu làm được mà, thử lần nữa xem sao!”. Hít một hơi thật sâu, tôi mở mắt, cầm bút và viết lại một tấm thiệp khác “Bà yêu quý của cháu…”
Tôi ra bưu điện gửi thiệp ngay sau đó. Vừa gửi xong thì có điện thoại từ phòng chụp. Sau khi chụp hai ngày, tôi nhận được kết quả không có khối u nào trong não. Lúc đó, tôi tin là Ông ngoại đã phù hộ cho tôi, để cho tôi tìm lại và hiểu rõ được niềm hạnh phúc lớn lao mà mình đang sở hữu, đó là Một-cuộc-sống-khoẻ-mạnh.
Tôi còn gửi thiệp cho Bà được thêm 3 lần nữa kể từ mùa xuân hạnh phúc ấy.
Lúc này chỉ còn chục ngày nữa là Tết. Không cưỡng lại được thói quen cũ, tôi lại chọn mua vài tấm thiệp thật đẹp. Ra quầy tính tiền, tôi vơ vẩn nghĩ, giả dụ mình cần gửi tặng thiệp cho một vài người nào đó thì mình cũng chẳng có địa chỉ nhà của họ mà gửi. Từ lâu rồi, địa chỉ email đã thay thế cho địa chỉ nhà.
Cầm trên tay những chiếc thiệp Không-biết-gửi-ai, bất chợt lại nhớ ngày xưa, nhớ Ông Bà đến rưng rưng...

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Sướng – Khổ: Chuyện còn dài


Vấn đề sướng – khổ là vấn đề mà mình luôn nghĩ đến. Mình đã từng viết bài Chuyện Chó Mèo để nêu phát biểu của mình về vấn đề này rồi. Hôm nay, mình lại định viết thêm.

Mình định viết kể chuyện hồi xửa hồi xưa, hồi đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Thời ấy, ở Hà Nội còn chế độ tem phiếu, mỗi người (cán bộ) chỉ được 2 lạng rưỡi thịt mỗi tháng. Cả nhà phải nhường thịt cho đứa trẻ nhỏ nhất nhà lúc đó – là mình – với mong muốn mình đầy đủ chất dinh dưỡng để được khoẻ mạnh và thông minh. Nhưng chỉ với từng đó thịt thì cả nhà có nhường kiểu gì cũng không đủ, cho nên mình bây giờ hoặc là khoẻ mạnh (thì không thông minh), hoặc thông minh (thì không khoẻ mạnh). Cái này mình không tự đánh giá được, cho nên sẽ để đấy cho bạn bè nhận xét.

Mình định kể chuyện hồi ấy, quần áo không đủ mà mặc. Hồi 4 tuổi, có lần thấy ông ngoại có một chiếc quần đùi mới, mình đã bảo “Ông ơi, bao giờ quần ông rách thì ông cho cháu xin, để mẹ cháu may áo cho cháu nhé!”. Hồi ấy, phụ nữ Hà Nội, từ già đến trẻ đều mặc một kiểu giống nhau: áo “phin” trắng hoặc xanh nhạt, quần lụa đen, dép nhựa. Một buổi sáng nào đó, mẹ mình đứng nói chuyện với bạn trai, mình nhìn thấy quần mẹ có một vết mạng rất khéo, mình đã kêu ầm lên “Quần mẹ có chữ T, tên mẹ kìa”, làm mẹ ngượng muốn chui xuống đất. Nhưng mà viết blog phải viết cho văn vẻ, trí tuệ một tí, nên mình không định nói chuyện thịt và chuyện quần áo. Mình định nói là sao hồi ấy khổ thế mà người Hà Nội không mấy ai than khổ. “Em vẫn đạp xe ra phố / Anh vẫn tìm âm thanh mới”, đời vẫn đầy niềm tin, đầy lãng mạn.


Rồi mình định kể chuyện ngày nảy ngày nay. Mình đang sống ở thế kỷ 21, và ở một thành phố lớn nhất trong cả nước. Thế nhưng nếu bạn nào đã được mình mời lên phòng ngủ thì chắc sẽ ngạc nhiên lắm, vì mình giăng mùng và ngủ chiếu (còn nhớ có lần đọc một bài bạn m â y viết từ thời xa xưa có tên là “Hồi nhỏ tôi ngủ mùng” mà thấy bùn cừi, vì bây giờ mình cũng vẫn ngủ mùng, không lẽ mình chưa lớn! Hehe). Phòng ngủ của mình không có máy lạnh, cả một mảng tường lớn là cửa sổ lắp kính. Ban đêm, mình chỉ cần mở hé 1 cánh – trong số 4 cánh cửa sổ – là đủ mát lạnh, phải đắp mền rồi. Đêm nào lãng mạn một tí thì mình nhìn ra cửa sổ, ngắm sao, ngắm những chiếc máy bay bay lướt qua bầu trời, cao hứng thì làm vài câu thơ để rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay, và sáng ra là quên sạch những vần thơ ướp hương đêm hồi hôm. Mình vẫn tự giặt quần áo bằng tay dù nhà có máy giặt. Mình vẫn tắm nước lạnh và đạp xe đạp mỗi buổi chiều thay vì mua những chiếc máy tập thể dục tiện lợi để ở nhà. Mình không trồng hoa hay cây kiểng mà trồng rau muống, mồng tơi, rau cải….


Và mình chẳng thấy mình khổ tí nào!


Mình định nói chuyện xa hơn, như chuyện bên xứ Triều Tiên chẳng hạn. Lãnh đạo Triều Tiên, mấy ông Kim Jong-gì đấy, toàn người trong một gia đình, cứ cha chết thì con lên thay. Họ ăn toàn sơn hào hải vị, ngày nào cũng có tôm hùm được tuyển, chọn những con ngon nhất mà ăn. Trong khi đó, dân Triều Tiên, k
hoảng 16 triệu người, tương đương hai phần ba dân số phải đối mặt với nạn đói. Người Triều Tiên cũng chỉ mặc có một kiểu quần áo, chẳng có Internet mà chơi FaceBook với Yahoo! (eo ơi, làm sao mà chịu nổi). Thế nhưng, hàng ngày, họ vẫn dẫn nhau đến đập đầu bôm bốp vào tượng đài Kim Nhật Thành để tỏ lòng biết ơn.


Vì họ không biết là họ khổ.


Khi không cảm thấy, hay không biết là mình khổ thì có phải là khổ không?

Định viết nhiều lắm, nhưng bỗng nhiên mình tìm thấy trên mạng có bài này, chẳng rõ tác giả là ai. Xem xong, mình sướng quá (vì chủ yếu là xem hình, chả phải đọc gì nhiều), nên quyết định không viết nữa, copy bài người khác lên cho khoẻ!














Đăng bài lên rồi mình sẽ yên tâm đi chơi mấy ngày, để cho bạn bè ra vào, đọc và bình luận. Chủ nhật mình trở về, vào nhà xem các bình luận và tiếp tục… sướng. Xem ra chuyện sướng khổ cũng đơn giản thôi, phải không?

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Kiếp này


Tình cờ mình tìm được lời giải cho lá số tử vi của mình từ năm 1992, lúc mình còn chưa lập gia đình. Người giải lá số này là một cựu sinh viên có 2 bằng đại học ở trường Lomonosov, đã từng làm việc ở một cơ quan phòng chống mê tín dị đoan. Hồi xưa mình mê tử vi lắm, thường tìm đến cô, không chỉ là muốn biết tương lai của mình mà còn là để học lóm. Học một thời gian, mình bị nghiện tử vi, đến nỗi cứ nhìn ai cũng đoán cung Mệnh của họ có sao gì, có đêm còn nằm mơ thấy mình chạy trong dải Ngân hà, chứng kiến sao Thái Dương và Thái Âm gặp nhau… Sau khi có con, mình tự hứa là sẽ bỏ hẳn tử vi, vì không muốn có một yếu tố nào ảnh hưởng và chi phối cuộc đời mình nữa.

Đây là toàn bộ nội dung mà mình ghi lại khi cô ấy cầm lá số của mình trên tay và “đọc” một cách trôi chảy như đọc… báo.





Đúng 20 năm đã trôi qua, giờ đọc lại bỗng rùng mình vì độ chính xác của nó. Chẳng lẽ có gì đó – thật vô hình – đã chi phối cuộc đời mình như vậy sao?

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Âm bản

Những đứa trẻ của thế kỷ thứ 21 sẽ dần dần không còn biết đến khái niệm về máy chụp ảnh phim, và khi được hỏi “phim chụp ảnh là gì?” thì cha mẹ chúng sẽ phải trả lời dài dòng rằng “hồi xưa, lúc con chưa ra đời…”

… Vậy là hồi xưa – thực ra cũng chưa phải là xưa lắm – lúc công nghệ kỹ thuật số chưa ra đời, OM đã từng rước về nhà khoảng gần chục “anh bạn” với những “khẩu súng” dài ngắn khác nhau. Các anh cùng có chung một đặc điểm là nồi đồng cối đá, phần cơ gần như chẳng bao giờ hỏng. OM luôn có một cảm giác lâng lâng khó tả khi ôm cái body của các anh lên ngang mày, dí mũi hít hít cái mùi đặc trưng không lẫn vào đâu được, vừa thấy mình thật hạnh phúc vì có từng ấy anh trong tay, vừa thấy lòng tham của mình trở nên vô đáy vì lúc nào cũng khao khát có thêm nhiều anh nữa.

Vì yêu các anh ngày xưa quá, nên mở đề dài dòng, thực ra bài này chỉ định xoay quanh cái tựa đề “Âm bản”. Tiếp theo câu chuyện, …vậy là cha mẹ sẽ phải giải thích cho những đứa trẻ thế kỷ 21 rằng: máy ảnh hồi xưa chủ yếu chụp bằng phim âm bản. Phim âm bản sẽ được đưa vào máy rọi (phóng) ảnh để in hình xuống giấy ảnh. Giấy ảnh sau khi bắt hình từ phim rọi xuống, được nhúng vào thuốc hiện rồi ngưng lại trong thuốc hãm, sẽ cho ra những tấm ảnh để lại cho đời sau. Chuyện phòng tối rất thú vị và ly kỳ, OM sẽ kể khi nào có dịp, còn hôm nay chỉ kể về những tấm ảnh thuộc loại đặc biệt thôi.

Để có tiền chơi ảnh, OM phải làm thêm, phải đi chụp các loại “đám”. Đám cưới, đám sinh nhật, đầy tháng, thôi nôi… thì khỏi nói, vì nó luôn mang niềm vui đến cho mọi người và mang… tiền về cho OM. Nhưng ngoài các đám vui vẻ ấy ra, còn một đám khác buồn đến nẫu người – là đám ma. OM chụp đám ma xong, khuya về, đem phim vào phòng tối, ngồi một mình và làm những việc cần phải làm. Khi những tấm giấy ảnh được nhúng vào thuốc hiện, gương mặt người chết hiện lên từ từ dưới ánh sáng đỏ quạch leo lét, sóng sánh trong làn nước thuốc. Có nhiều lần, OM chợt thấy ớn lạnh, nổi gai ốc khi cảm giác ai đó đang lơ lửng đứng phía sau lưng, đang chăm chú xem những động tác mình làm. Đó chính là những giây phút mà triết lý về sự sống và cái chết luôn hiện về, lảng bảng trong bầu không khí 2m vuông đặc quánh của phòng tối.

OM trong phòng tối (Ảnh chụp khoảng năm 1990)


Người ta thuê thợ ảnh chụp đám ma vì… phải có ảnh, chứ thực ra khi đem ảnh đến cho gia đình, chẳng ai trong số họ buồn giở ra xem. Tuy nhiên, gia chủ luôn luôn cần một tấm ảnh khác, đó là ảnh chân dung để thờ. Không phải ai cũng có sẵn một tấm ảnh chân dung của người thân để chuẩn bị cho ngày người ấy ra đi. Thường thì chân dung được tách ra từ một tấm ảnh chụp chung nào đó và họ thuê OM làm lại sao cho đủ chất lượng để đặt lên bàn thờ. OM không có tiền mua ống kính macro để chụp lại những tấm ảnh nhỏ nên phải chế ra nhiều cách. Có thể quay ngược ống kính normal, một tay giữ chắc cho ống kính khít vào thân máy, tay kia bấm nút chụp. Cách này nhanh nhưng hơi khó và ảnh thường chỉ rõ phần giữa, mờ xung quanh. Cách thứ hai là lại… vào phòng tối! Trong bóng tối hoàn toàn, OM cắt một đoạn phim chưa tráng gắn vào máy rọi với mục đích biến máy rọi thành máy ảnh. Đặt tấm ảnh nhỏ xíu xuống mặt bàn và hắt vào đó một nguồn sáng trong tích tắc, tấm phim sẽ bắt được hình của tấm ảnh và ta có được một phim âm bản. Trong khoảnh khắc khi ánh sáng đèn loé lên, bắt vào gương mắt người đã khuất, nếu điều đó diễn ra một trăm lần thì cả một trăm lần OM đều cảm giác như người đó vụt sống dậy. Hàng ngàn thước phim cuộc đời họ, những buồn - vui, được - mất, hạnh phúc - đau khổ… như vừa quét qua và cô đặc lại trong một giây loé sáng.

Sau khi đem tấm phim âm bản đó rọi lại và in ra thành ảnh, OM còn một công đoạn nữa là ngồi “tút” lại ảnh. Công việc là dùng mũi dao lam cạo lên những vùng bị rạn, bị xước để giấy ảnh có thể bám màu và dùng một loại màu đặc biệt chấm lên đó. Việc này đòi hỏi tập trung cao độ, khéo tay và tỉ mẩn. Vừa làm, OM vừa “trò chuyện” với bức ảnh “Ông / Bà chịu khó tí nhé, cháu làm cẩn thận cho đẹp, để cho con cháu ông / bà hàng ngày nhìn, nhớ đến ông / bà những lúc đẹp lão như thế này…” OM làm công việc đó, trước tiên là để có tiền – tất nhiên – nhưng có lẽ cũng không hẳn là để có tiền. Làm để mà làm thôi, cứ làm như thế với hết khả năng và tấm lòng của mình và cảm giác mình đã lưu giữ được những điều đẹp đẽ.

Khi ông bà ngoại bước sang tuổi “xưa nay hiếm” cũng là lúc OM đã thôi chơi ảnh, ông bà nhờ OM đem ảnh ra tiệm thuê người ta làm sẵn cho những bức hình thờ. OM không muốn đem ra tiệm vì người ta chỉ làm cho tấm hình “nhẵn nhụi”, da dẻ hồng hào, đẹp lên theo cách mà thợ ảnh cho là đẹp. OM muốn tự tay làm hình cho ông bà với tất cả những tình cảm của mình. Này là mái tóc bạc phơ của ông bà – mái tóc mà lúc OM chào đời, nó vẫn còn đen nhánh, mái tóc mà khi lớn lên một chút, OM đã bao lần vừa tìm nhổ những sợi bạc, vừa nghe ông bà kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Này là ánh mắt yêu đời, mãi trẻ trung cho đến tận những ngày cuối đời của ông. Này là cái vết nám nho nhỏ trên má của bà mà lần nào ra Hà Nội, OM cũng phải sờ lên đó…, OM muốn giữ lại tất cả…

Chỉ có một tấm hình thờ mà OM hầu như không sửa chữa gì cả, đó là tấm hình của ba. Ba mất đi ở tuổi 55, cái tuổi mà người ta còn sung sức lắm, còn yêu cuộc đời này lắm… OM không sửa và cũng không thể sửa gì được, vì một khi trái tim ta còn đau thì bàn tay ta chẳng thể làm được việc gì cho chính xác.

Hôm rồi về quê, thấy má (chồng) đã chuẩn bị một bức ảnh thờ. Thợ ảnh sửa cho gương mặt má thành “mặt hoa da phấn láng o”, phông nền phía sau tím tím hồng hồng như phông nền đám cưới. Má có vẻ không hài lòng. OM hứa “Con về nhà sẽ làm cho má một tấm thật đàng hoàng”. Nói là làm. OM tìm được một tấm má không cười, nhưng ánh mắt có sẵn nụ cười sâu ở bên trong. Nụ cười của một người mẹ mãn nguyện khi thấy đàn con mà mình đã chắt chiu từng chén cơm, từng tấm áo nuôi cho khôn lớn, nay đã trưởng thành. Bây giờ có công nghệ kỹ thuật số, làm hình khoẻ rồi, cứ nhẩn nha trên photoshop, làm không ưng thì lại sửa. Vừa làm ảnh cho má trên máy tính, OM vừa tủm tỉm cười, hình dung mình 40 năm nữa cũng sẽ phải làm hình thờ. Lúc ấy, bà OM gàn dở chắc là sẽ nhất định không cho con cháu đem hình mình ra tiệm vì “lỡ chúng nó sửa bà thành mặt hoa da phấn, xoá mất tiêu mấy cái tàn nhang trên má thì còn gì là bà nữa!”

Đó là nghĩ cho vui, có khi đến lúc ấy, công nghệ sẽ chuyển sang một loại hình mới, không biết chừng lại quay về Âm bản! Thì sự phát triển của xã hội mình đôi khi vẫn ngược dòng đấy thôi, chẳng đoán trước được! Chỉ có một điều chắc chắn là chúng ta đang sống trong thế giới Dương bản, nhưng cũng đôi khi ta đứng thật lâu trước tấm ảnh của người thân và cảm nhận một cách rõ ràng rằng: gương mặt thân yêu đang nhìn thẳng vào ta là nhân chứng cho sự giao thoa giữa Âm bản và Dương bản…
Suy nghĩ thế có trừu tượng quá không?

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

17 cái xuân ngời

Bạn í là bạn trai của mình. Mình không nói tên thật của bạn í ra đây đâu, vì bạn í đọc được thì kỳ lắm! Tạm gọi bạn í bằng tên viết tắt thôi nhé, tên bạn í bắt đầu bằng chữ L. Mình kết bạn với L. thấm thoát đã được 17 năm rồi.

Lúc mới quen L, mình nghe mọi người khen L đẹp trai lắm, nhưng thực ra mình thấy cũng bình thường thôi, được cái trắng trẻo, lông mày đậm, mắt to, hiền, nụ cười dễ thương. Bạn của L cũng là bạn của mình, nên trong một lần cùng nhau đi ăn uống, mình quen L ở một quán gỏi vịt. L nhìn mình cười, còn mình thì – trời xui đất khiến thế nào lại vớ phải miếng thịt vịt dai nhách – nên cứ loay hoay, nhè ra thì bất lịch sự, mà nuốt vào thì không xong. Ăn xong, ra về, trong đầu mình chỉ còn mỗi món thịt vịt, chẳng có tí hình ảnh nào của L trong tâm trí. Lần thứ 2, mình gặp L ở quán gỏi cá. Quán ồn ào, nóng nực, L ngồi cạnh nói gì đó với mình, câu được câu mất. Câu mà mình nghe rõ nhất là “lần trước mình đã gặp nhau, em quên rồi à?”. Mình thú nhận “Em chẳng nhớ gì cả!”. L cười hiền, chả tỏ vẻ gì là bất mãn. Lần thứ 3, mình gặp L ở một quán nhậu không tên. Lần này thì mình nhớ mặt L rồi. Chuyện trò vui vẻ đến khuya rồi L đưa mình về một đoạn đường.

Nửa năm sau, mình đăng ký thi vào trường Mỹ thuật. Trước giờ thi, mình ăn sáng ở quán gần trường và lại gặp L.
- Em đi đâu thế? -  L hỏi.
- Em đi thi.
- Anh cũng đi thi.
Rõ là ý Trời!


Mình thi đậu thủ khoa, còn L thì đậu vớt, nhưng L chẳng lấy đó làm phiền. Vào học cùng một lớp, bạn í lập tức vượt lên trên mình. Mình vẫn được điểm cao hơn bạn í, nhưng trong thâm tâm, mình biết khả năng của bạn í trên mình một bậc. Mình ức lắm, cố gắng mọi cách để “qua mặt” L, nhưng cứ qua được một lần thì lần sau L lại vươn lên một tầng cao mới mà mình không sao bắt kịp. Một năm học trôi qua trong những cuộc chạy đua như vậy, và kết thúc năm học, thế quái nào chuyện lại xảy ra như thế này:


DamcuoiLiem-THuong.jpg



Mình mặc áo dài đỏ cười nhắm cả mắt, còn L mặc complet đen đang cười hết ga đó!

17 năm trôi qua, L làm mình shock nhiều lắm, sóng gió cũng không ít, nhưng mình tự hào là chúng mình chưa đập bể cái chén nào nên cũng không phải nhờ ai hàn gắn, chúng mình cũng chưa viết tờ đơn nào nên cũng chẳng có gì để xé. Dẫu biết là cuộc sống này chẳng có gì tròn trịa nhưng mình vẫn cầu mong mãi mãi là như thế.

Hôm rồi, kỷ niệm 17 năm ngày mình mặc áo dài đỏ và L cười hết ga, mình rủ L đi Bình Qưới. Đường đến Bình Qưới phải đi qua Thanh Đa. Chúng mình đi qua quán gỏi vịt, đi qua quán cháo cá, đi qua quán nhậu không tên, đi qua 17 cái xuân ngời vừa dài dằng dặc, vừa ngắn như một giấc chiêm bao và mình hiểu là trên đời này có một đôi điều thật giản dị nhưng lại vô cùng quý giá.

Bạn L thì vẫn cười vô tư, chẳng biết bạn í có nhìn thấy điều quý giá đó không?






Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Bưu điện thành phố

Lên mạng mà gặp một bài viết có tựa đề khô khan kiểu như “Bưu điện thành phố” thì chắc mình sẽ chẳng bao giờ click vào, chứ đừng nói đến chuyện sẽ bỏ thời gian ra xem. Thế nhưng hôm nay - trong làn không khí lành lạnh của những ngày cuối năm, khi Sài Gòn nắng hanh, gió nhẹ vừa đủ để thổi tung đám lá vàng trên mặt đường - thì bỗng nhiên mình lại có hứng viết về cái bưu điện trung tâm ấy.

Ngày xửa ngày xưa, vào những năm 80 của thế kỷ trước, có con bé mười mấy tuổi đã từng mê mẩn bưu điện trung tâm này. Ở vào cái tuổi mới lớn, nhu cầu giao lưu bạn bè của nó xem ra là vô bờ bến. Nó giao lưu với các anh bộ đội ngoài biên giới, hải đảo, các anh thanh niên xung phong ở tận mấy nông trường Đakmil, Đăknông xa lắc …, nó cũng có những người bạn mắt xanh tóc vàng chưa bao giờ gặp mặt, ở mãi tận đẩu tận đâu xứ Đông Âu xa xôi mà nó mới chỉ biết đến qua một vài truyện dịch tình cờ đọc được ở đâu đó. Thời ấy, chuyện giao lưu chỉ được thực hiện dưới mỗi một hình thức là thư gửi qua đường bưu điện. Những lá thư được nó viết nắn nót trên những tờ giấy A5 gập đôi, tờ nọ lồng vào tờ kia và bấm kim ở chính giữa như một quyển sách nhỏ. Nó mê viết thư như trẻ con bây giờ mê xem phim hoạt hình và chơi game vậy. Mỗi lá thư viết xong, nó đều cho vào phong bì trắng tự làm, cẩn thận dán một con tem ngay ngắn và đạp xe lên tận bưu điện trung tâm để bỏ thư vào thùng. Sau đó là những ngày chờ đợi. Mỗi lần bác đưa thư đi chiếc xe đạp – với tiếng chuông leng keng không lẫn vào đâu được – là nó lại chạy ra sân nhìn theo cho đến khi bác đi khuất. Xen vào giữa vô số lần bác đi ngang qua như vậy là những lần bác dừng lại gọi: “HTH, có thư!”. Nó vồ lấy những bức thư với các kiểu phong bì khác nhau, có phong bì làm bằng giấy vở học trò, có phong bì mua sẵn với dòng chữ “gửi máy bay” in ở góc dưới, có phong bì in màu thật đẹp còn thơm mùi giấy nước ngoài. Nó cầm những chiếc phong bì trên tay với niềm sung sướng không lời diễn tả.

Thực ra ngoài chuyện gửi và nhận thư, nó cũng có đôi lần được gọi đến bưu điện để nghe điện thoại đường dài. Đó là những lần anh bạn trai là thuỷ thủ tàu viễn dương, đang lênh đênh ở đâu đó,  bỗng dưng “nổi hứng” muốn nghe giọng nói của nó. Vào một giờ hẹn trước, nó phải trực sẵn ở quầy điện thoại, khi cô nhân viên bưu điện bắt được tín hiệu thì nó cầm máy lên. Thường thì anh nghe thấy giọng của nó, nhưng nó không nghe được giọng của anh, cô nhân viên bưu điện phải làm chiếc cầu nối. Cô bảo: “Anh ấy nói anh ấy rất nhớ em, anh ấy nói Tết này anh sẽ về, anh ấy bảo anh đang ở Hồng Kông…” vân vân và vân vân. Hình như lúc ấy nó chỉ coi anh như một người bạn nên những cuộc trò chuyện như vậy không để lại cho nó một ấn tượng sâu đậm nào. Bưu điện là nơi để nó gửi đi tình yêu thương của mình chứ không phải là nơi để nhận những lời nói ngọt ngào.

Đối với nó, bưu điện cũng còn có một sức hấp dẫn khác.

Hồi ấy nó đang học cấp III. Nói đến trường cấp III là phải nói đến môn Toán, vì nó học dốt Toán vô cùng. Những giờ Toán trôi qua trong cuộc đời nó nặng nề và dài dằng dặc như hàng thế kỷ. Nó không muốn chôn vùi mình trong cái sự hãi hùng đó nên thường trốn tiết. Nếu nghỉ học cả buổi thì phải có giấy phép và tất nhiên cũng không thể nghỉ nhiều, nhưng nếu đầu giờ buổi sáng có mặt trong lớp thì coi như ngày hôm đó vẫn học bình thường. Vậy là nó đi học buổi sáng và đến tiết Toán thì trốn. Không hiểu nó làm cách nào mà cả người cả xe đạp đều trót lọt khi đi ngang cái cổng bé xíu có bác bảo vệ đeo kính lúc nào cũng ngồi nhìn chăm chăm vào từng người qua lại? Thoát khỏi cái cổng đó, nó như con chim sổ lồng tung cánh vào bầu trời tự do. Những năm 80, buổi sáng ở Sài Gòn lúc nào cũng mát mẻ như bây giờ vào tiết trời cuối năm. Đường phố vắng hoe đến nỗi nghe rõ cả tiếng lá xào xạc trên những tán cây dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa trải dài đến tận Dinh Độc lập và công viên trước Nhà thờ Đức Bà. Nó vừa đạp xe vừa hát, thường thì cứ tua đi tua lại mỗi một bài, tua đến lần thứ mười mấy thì thấy mình đã đến bên hông nhà thờ và đánh một vòng ôm cua để rẽ vào Bưu điện trung tâm.

 
Bưu điện Trung tâm Thành Phố

Photo by : HMoong

Ngoài đường thì vắng, nhưng bưu điện thì lúc nào cũng tấp nập. Ngay giữa bưu điện, người ta thiết kế một hàng dài mấy chục chỗ ngồi, mỗi chỗ đều được ngăn vách thành từng ô giống như chỗ ngồi của phóng viên trong các toà soạn báo. Nó chọn cho mình ô ở phía góc xa, chỗ vừa ít người qua lại, vừa có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát khắp nơi. Ở quầy bưu phẩm có người đàn bà chừng 50 tuổi đang hỏi han cô nhân viên về thủ tục gửi quà, chắc chắn bà đang cầm trên tay gói nhu yếu phẩm gửi cho con trai là bộ đội đang đóng quân ngoài biên giới. Ở quầy thư nước ngoài có một chị khoác chiếc khăn quàng màu xanh da trời, tay cầm khư khư chiếc phong bì vừa dán, chắc là gửi cho người yêu. Một anh không còn trẻ nhưng cũng chưa già, quần áo xốc xếch, đang vội vàng ghi thông tin gì đó ở quầy chuyển tiền, chắc là gửi tiền lương tháng của mình về cho vợ con ở quê. Một ông già cũng ngồi ở một ô như nó viết thư, làm nó hơi thắc mắc một chút, không hiểu bằng tuổi này, ông còn có nhu cầu viết thư cho ai mà chăm chú, mà nét mặt đầy yêu thương đến vậy…

 

Nó ngồi đó, nhìn tất cả mọi người qua lại và… viết truyện. Cốt truyện và các nhân vật đều đã được nó xây dựng từ trước, nhưng chỉ đến khi ngồi ở một góc bưu điện, diện mạo từng người mới hiện lên rõ đến từng chi tiết và trở nên thực sự sống động.

Cứ như vậy, rất nhiều truyện ngắn của nó đã ra đời ở Bưu điện thành phố.

Năm tháng cứ dần trôi…
Lâu rồi, nó không còn vào Bưu điện thành phố nữa. Không còn anh bạn trai ở lênh đênh trên biển, không còn những anh bộ đội, anh thanh niên xung phong ở biên giới, ở nông trường, không còn những người bạn tóc vàng mắt xanh ở tận đẩu tận đâu phía bên kia địa cầu, và những truyện ngắn của nó đã nằm kỹ đâu đó ở dưới đáy mấy chiếc thùng carton chất đống trong góc nhà.


Thỉnh thoảng đi qua bưu điện, như một thói quen, nó chợt muốn dừng lại để gửi xe. Sau phút ngập ngừng, nó chợt tỉnh, chợt cười ngơ ngẩn một mình rồi nhấn ga cho xe chạy qua, để lại Bưu điện thành phố xa dần phía sau lưng.

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Tàu đêm đi qua thành phố

Tau dem

Ai đã từng ngồi bên ô cửa sổ của một chuyến tàu đêm đi qua thành phố có thể sẽ hiểu cảm giác này. Nếu như những người đang đi trên đường buộc phải dừng lại trước thanh barie chắn tàu, mắt nhìn chăm chăm vào những toa tàu sầm sập kéo qua trước mặt với cảm giác sốt ruột, thì ta – kẻ ngồi bên ô cửa sổ toa tàu – lại nhìn họ với cái nhìn lướt qua, không hẳn hờ hững, không hẳn quan tâm. Có gì đâu, trong giây lát, ta sẽ bỏ lại phía sau tất cả những gương mặt xa lạ: một anh phát thanh viên trên đài truyền hình vừa tan ca, một chị công nhân đang đến nhà máy thay ca trực cho đồng nghiệp của mình, một cô gái làm ở quán bar vừa dọn dẹp xong đống ly tách bia bọt, đang trên đường trở về căn gác trọ, một gã say rượu đang ngất ngưởng tìm đường về nhà…Có gì đâu, ta chỉ lướt qua họ trong tích tắc và có thể sẽ chẳng bao giờ gặp lại họ trong đời.

Nhưng đấy là bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đêm bình thường. Còn nếu bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đang mang bạn đi khỏi nơi mà bạn đã từng sinh ra, lớn lên và trải qua những tháng ngày tươi đẹp nhất thì cảm giác của bạn sẽ không dễ gì tả lại được bằng lời.

Một lần, tôi có việc nên phải về nhà lúc khá khuya - chẳng may phải đi qua con đường quen thuộc có tuyến xe lửa chạy qua - vừa đúng lúc barie hạ xuống trước mặt. Không hiểu sao, đoàn tàu chạy qua hôm đó đi rất chậm, và ở một ô cửa sổ sẫm tối nhưng có ánh đèn đường hắt vào, tôi chợt bắt gặp gương mặt đầm đìa nước mắt của một một bé gái chừng 10 tuổi. Gương mặt chầm chậm lướt qua tôi và bỗng chốc tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Trời ơi, tôi nhớ, nhớ quá đi mất những căn nhà mái ngói màu nâu xám dưới ánh đèn vàng, bóng những cây sấu già in xuống mặt đường, những người đàn ông đeo trên ghi-đông xe đạp một chiếc cà-men sắt, những người đàn bà mặc quần lụa đen và áo phin nhấp nhổm trên chiếc xe đạp Phượng hoàng đang đứng chờ tàu đi qua… Đó là một đêm mùa hè và cũng là hình ảnh cuối cùng dưới con mắt trẻ thơ của tôi về một Hà Nội thân thương, hiền hoà và đầy ắp kỷ niệm.

Bao nhiêu năm qua, tôi vẫn giữ hình ảnh đó trong lòng, dù Hà Nội bây giờ với tôi hoàn toàn xa lạ. Tôi không còn di chuyển bằng tàu hoả và cũng không có ý định thử đi tàu hoả lại một lần, nhưng mỗi lần dừng lại trước thanh barie chờ cho đoàn tàu sầm sập chạy qua, tôi vẫn cứ cảm giác mình như đang ngồi bên một ô cửa sổ và nhìn xuống con đường với một thứ tình cảm không có lời diễn tả.

Đêm đêm, những con tàu vẫn lặng lẽ chạy ngang thành phố. Nếu một trăm lần bạn đã lơ đãng và sốt ruột nhìn nó nặng nề lăn bánh qua trước mặt thì hãy thử một lần nào đó nhìn sâu vào những ô cửa sổ sẫm tối xem có nỗi buồn nào đang lướt ngang qua không. Nếu thấy được điều gì đó, bạn sẽ hiểu rằng tận sâu trong trái tim, ta đã không hờ hững với những khoảnh khắc vụt qua trong cuộc đời này.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Nhảy

Nhay

Có thể còn từ khác nghe sang trọng hơn từ nhảy, như từ khiêu vũ chẳng hạn, nhưng tôi vẫn thích dùng từ nhảy. Mỗi lần nhắc đến nó là trong đầu tôi lại văng vẳng hai câu thơ (không rõ có phải của Lưu Trọng Lư không):

Nhảy, nhảy đi cô gái nhỏ
Tuổi trẻ bay vèo theo nhịp gõ trái tim.


Tôi không thuộc bài thơ, chỉ biết mỗi hai câu ấy, nhưng mỗi lần nó lướt qua đầu, tôi lại thầm nghĩ “sao mà làm thơ khéo thế, triết lý về cả một thời tuổi trẻ sôi động, nồng nhiệt và thêm một chút ngông cuồng… tất cả gói gọn trong chỉ trong vỏn vẹn có hai dòng”.

Nhảy, nhảy đi cô gái nhỏ

Tôi nhìn thấy bóng mình xa… rất xa… trong câu thơ ấy.

Cùng với bóng tôi, tôi nhìn thấy bóng những cậu con trai trẻ măng, mặt còn đầy lông tơ và bóng của những người đàn ông đầy sức quyến rũ đến mê dại dưới ánh đèn chớp nháy và nhịp trống dội thình thịch vào tim.

Nhảy, nhảy đi cô gái nhỏ

Không nhớ tôi tập nhảy những bước đầu tiên là khi nào, chỉ nhớ hình ảnh dưới ánh đèn mập mờ (vì điện luôn bị mất một pha) trong phòng 114 ký túc xá, mấy anh lớp trên tranh thủ buổi tối lên phòng các em năm thứ nhất để dạy nhảy với hi vọng được làm bạn trai của một em nào đó mà mình thích. Các em mang giày thể dục, nắm tay các anh và cùng hát thay cho tiếng nhạc. Chách chách chách bùm bùm – một, hai, ba, chập. Tôi có một anh như thế làm bạn nhảy. Anh 22 tuổi, cao 1 mét 75, điển trai. Mỗi lần nhảy với tôi, anh đều nhìn tôi với đôi mắt sâu, đẹp mơ màng. Thỉnh thoảng, nhân một dịp kỷ niệm nào đó, ban quản lý ký túc xá lại tổ chức vũ hội từ 8 giờ tối cho đến 1-2 giờ sáng. Đó là những dịp “danh chính ngôn thuận” để anh giữ tôi trong vòng tay thật lâu và thì thầm trong hơi thở gấp gáp: “Em có đồng ý làm bạn gái của anh không?”. Tôi đồng ý. Anh đẹp trai thế cơ mà!

Rồi tôi chia tay anh vì một lý do vớ vẩn nào đấy mà tôi không thể nào nhớ được chính xác.

Tôi có bạn nhảy mới. Bạn bằng hoặc kém tôi một tuổi, đôi mắt tròn thơ ngây và mái tóc nâu vàng mềm óng. Tôi còn trẻ nhưng cũng đủ chút nhạy bén để hiểu: bạn tham gia đăng ký lớp học nhảy vì tôi biết nhảy, bạn thích nhảy vì tôi thích nhảy, bạn có thể làm tất cả mọi điều nếu tôi thích điều đó. Sau 2 năm học, chúng tôi rời ký túc xá, trở về thành phố. Sài Gòn lúc đó rộ lên phong trào khiêu vũ. Hàng chục điểm khiêu vũ mọc lên khắp các nhà văn hoá quận và chúng tôi tiếp tục làm bạn nhảy của nhau cho đến khi tôi cảm thấy bạn không thể là một bờ vai cho tôi dựa vào đó. Cuộc sống không phải là vũ trường và đôi tay mạnh mẽ của bạn chỉ có thể dẫn tôi trong các bước nhảy chứ không thể dẫn tôi đi tiếp đến một miền hạnh phúc mà tôi mơ ước.

Dù chủ động chia tay bạn, nhưng tôi vô cùng hụt hẫng.Tối thứ bảy, chủ nhật, tôi leo lên căn phòng nhỏ áp mái nhà, mở nhạc khiêu vũ, nằm nghe những điệu nhạc nhói buốt thình thịch dội vào tim. Nhạc Boléro. T’rach chách bum chách bùm chách bum! Nhịp này có thể nhảy điệu Rumba nhé, điệu Rum ba của tình yêu, của mê đắm và của cả những nỗi buồn không có tên, chẳng có lời diễn giải.

Và một lần, khi đang nghe nhạc Boléro, em xuất hiện.

Em kém tôi vài tuổi, người thư sinh, mảnh dẻ, gương mặt sáng sủa với nụ cười rất duyên. Em rủ: “Từ bây giờ, tối thứ bảy, chị em mình đi nhảy nhé!”. Tối thứ bảy, em đến chở tôi bằng xe đạp. Trên sàn nhảy, không bao giờ em rời tôi nửa bước để nhảy với người khác. Cứ như thế, em làm bạn nhảy của tôi được nửa năm. Tôi chịu ơn em vì em đã đưa tôi ra khỏi nỗi buồn, em thắp lên trong tôi một ngọn lửa xua đi đôi điều u ám không đáng có ở lứa tuổi đầy sôi động. Nhưng chỉ thế thôi! Rồi tôi có người yêu. Em không đạp xe đến nhà tôi vào tối thứ bảy, còn tôi thì xếp em vào trong chiếc tủ “Thời con gái” của mình. Em nằm trong ngăn “Hoàng tử bé”.

Tôi giao hẹn với người yêu: “Muốn cưới em, anh phải học nhảy”. Anh bảo: “Được rồi, cưới xong anh sẽ học”. Chúng tôi cưới nhau và anh không bao giờ học nhảy.

Bây giờ, thỉnh thoảng năm thì mười hoạ, tôi mới có dịp đi nhảy với vài người bạn. Từ khi có Bước nhảy hoàn vũ, thiên hạ chuyển sang học Dance Sport. Món đó quá khó nên tôi chịu thua. Đi vào sàn, tôi vẫn chỉ biết nhảy những điệu kiểu cổ điển. Một đôi lần, trong ánh sánh chếnh choáng và tiếng nhạc đầy mê lực, có người bạn nào đó ghì sát tôi vào người, hoặc có ai đó nói trong hơi thở: “chị có thích… em không?”, tôi đều lặng đi trong giây lát trước khi tỉnh táo lại và giữ khoảng cách cần thiết cho mình.

Người đàn bà trong tôi vẫn nhìn thấy bóng mình xa, rất xa… trong câu thơ và trong nhịp trống thình thịch dội mạnh từ quá khứ.

Nhảy, nhảy đi cô gái nhỏ
Tuổi trẻ bay vèo theo nhịp gõ trái tim.


T’rách chách bum chách bùm chách bum…

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Bà về với Ông

Tuổi thơ của tôi gắn liền với hai khái niệm: Hà Nội và ông bà ngoại.

Ong Ba& T.Huong

Tôi sinh ra ở Hà Nội và lớn lên dưới mái nhà của ông bà. Lúc tôi sinh ra, mẹ tôi còn là sinh viên, luôn bận rộn với việc học hành, các bài vẽ và những chuyến đi thực tế dài ngày; ba tôi làm ở toà soạn báo, thường xuyên phải trực đêm, nên việc chăm sóc, dạy dỗ tôi phải nhờ nhiều vào ông bà. Tối tôi nằm giữa nghe ông bà kể chuyện, ban ngày ông bà bày trò cho tôi chơi. Lớn lên chút nữa, bà bắt đầu dạy tôi làm việc nhà và ông dạy những bài học về cách cư xử để trở thành người Hà Nội thanh lịch. Nhờ có ông bà, tôi mới biết cách cầm chổi quét nhà, cách rửa ấm chén pha trà, cách nấu cơm bằng bếp củi, bếp dầu, cách cầm cây kim may vá… Cả những chuyện hết sức đơn giản như khách đến nhà phải chủ động chạy ra chào hỏi, mời nước;  chuyện khi ăn cơm phải xới phần cháy lên ăn trước, để phần nồi cơm tươm tất cho những người ăn sau; chuyện bước đi phải nhấc cao chân, không được lê dép lẹp xẹp… cho đến chuyện đi đường gặp đám tang thì bất luận trời nắng hay mưa cũng phải phải bỏ mũ để tiễn đưa người đi về thế giới khác. Có lẽ trẻ con sau này hiếm khi được dạy dỗ tỉ mỉ như vậy, nên người Hà Nội giờ đây không còn là người Hà Nội thanh lịch như những hình ảnh còn lưu lại trong ký ức của tôi. Tiếc thay!
Ong Ba 2 chau

Lên 8 tuổi, tôi theo ba mẹ vào Sài Gòn, bắt đầu một cuộc sống mới không có ông bà.

Thỉnh thoảng, có những lần giận ba mẹ, tôi cứ nung nấu ý nghĩ mình sẽ phải quay ra Hà Nội, vì chỉ có ông bà mới hiểu được những nỗi ấm ức mà tôi đang phải giữ ở trong lòng, vì ba mẹ suốt ngày chỉ có công việc mà không có thời gian để hiểu những tâm tư của tôi. Nhưng muốn ra Hà Nội thì phải có tiền mua vé tàu, mà tôi thì một xu cũng chẳng có, thế nên trong đầu tôi dần hình thành một kế hoạch… đi bộ. Theo kế hoạch đó, khi nghỉ hè bắt đầu, tôi sẽ nắm vài nắm cơm và cứ đi theo đường rày xe lửa theo hướng Nam – Bắc, kiểu gì thì cũng đến nơi, không sợ bị lạc. Thỉnh thoảng, tàu dừng lại hay đi chậm, tôi sẽ nhảy lên tàu, ngồi ở góc nào đó. Nếu bị phát hiện thì đến ga tiếp theo lại… xuống đi bộ! Kế hoạch hoàn hảo đó luôn nung nấu trong đầu óc non nớt của tôi. Rất may, tôi không thực hiện được vì cứ đến hè là ông bà lại vào thăm hoặc tôi lại được ra Nà Nội thăm ông bà… Cứ thế cho đến khi tôi đủ lớn để hiểu lòng ba mẹ và để biết rằng mình phải chấp nhận cuộc sống không có ông bà bên cạnh.

Ông và bà là một mẫu lý tưởng để cho không chỉ con cháu, mà bất cứ một cặp vợ chồng ở bất cứ nơi nào cũng phải ngưỡng mộ. Có với nhau 5 người con gái, 2 người con trai (không kể một cậu đã mất, còn lại tất cả 7 người đều được học hành cho đến khi thành đạt), ông bà vẫn luôn quấn quýt bên nhau bằng một thứ tình cảm mà thời đại của tôi bây giờ khó lòng hiểu được! Tôi luôn nhớ hình ảnh ông bà luôn khoác vai hoặc nắm tay nhau khi đi dạo ngoài đường, ông luôn xách túi bên bà khi đi chợ, buổi tối bà xoa lưng cho ông, rồi đến lượt ông bóp vai cho bà. Chẳng bao giờ thấy ông bà rời nhau nửa bước. Còn nhớ một lần bà có việc phải vào Sài Gòn mà không có ông đi cùng. Vài ngày trước khi bà đi, ông đã nôn nao không ngủ được. Đêm ông thức dậy viết thư cho bà. Tiễn bà ra ga xong, ông ra bưu điện bỏ thư vào thùng. 3 ngày sau, bà vào đến Sài Gòn cũng vừa lúc thư của ông đến. Tình yêu như vậy có lẽ chỉ xảy ra ở thời điểm đôi trai gái chưa cưới, đang mê đắm nhau, chứ ở hai ông bà già đã có 7 người con cùng cháu nội cháu ngoại đầy nhà thì tôi chưa từng gặp bao giờ.

Vậy mà cách đây tròn 13 năm, ông đã phải đi xa bà. Năm ấy ông 82 tuổi.

Suốt 13 năm qua, bà ngủ trong phòng có bàn thờ ông. Xung quanh phòng của bà treo đầy ảnh của các cháu, các chắt từ lúc ẵm ngửa cho đến dăm bảy tuổi. Bà nhìn ảnh ông để hàng ngày hẹn sẽ về với ông, nhìn ảnh các cháu chắt để thấy chúng lớn lên như một minh chứng cho niềm hạnh phúc tuổi già.

Mỗi lần có dịp ra Hà Nội, tôi lại chạy ào đến ôm bà, thấy bà lúc thì đeo kính, lại cầm thêm chiếc kính lúp đọc báo Văn nghệ, lúc thì ngồi xem chương trình phim truyện, không cần kính mà vẫn đọc được phụ đề lướt trên màn hình. Tôi mừng. Thầm cầu trời cho bà sống lâu trăm tuổi, biết đâu lại được chứng kiến sự ra đời của thế hệ chút chít.

Nhưng lần này ra Hà Nội, bà đã muốn đi gặp ông. Bà nằm im bất động trên giường đã 10 ngày nay, không ăn, chỉ thỉnh thoảng nhấp môi một chút nước. Mọi người hỏi Bà đã thấy ông chưa?, bà bảo thấy rồi. Tôi gọi: “Bà ơi, cháu đây!”, bà chỉ “ừ”, không đủ sức nói thêm. Vậy mà bà vẫn nấn ná chưa đi. Các dì bảo bà đang “chờ” mẹ cháu ra cho đủ mặt. Tôi gọi điện báo mẹ ra gấp. Trưa hôm sau, mẹ bay ra. Bà không “ừ” được nữa, nhưng mấp máy mắt. Hơn một tiếng sau bà đi.
Ba Ngoai

Thầy chùa xem ngày tháng bảo tang này là Hồng tang. Bà vừa nhắm mắt là có người đợi sẵn, dẫn bà đi ngay, gia quyến không nên quá đau buồn. Tôi đoán chắc ông đang đợi bà. Có thể ông đứng đợi bên chiếc xe đạp peugeot màu xám bạc quen thuộc của ông, để chở bà như ngày xưa, cũng có thể ông sẽ nắm tay bà đi bộ…

Sau đám tang bà, tôi ra sân bay để trở lại Sài Gòn. Hà Nội đang chuyển mùa, sắp sang hè. Qua cửa kính xe, tôi nhìn đám lá vàng bay đầy trên phố, biết rằng từ nay, mỗi lần đáp xuống sân bay Nội Bài, tôi sẽ không bao giờ còn cái cảm giác lâng lâng, háo hức, muốn bay ngay về căn nhà trong con ngõ nhỏ, chạy lên gác để ôm bà nói rằng: “Bà ơi, cháu đã về!”. Không còn là nơi trở về, Hà Nội với tôi từ nay và mãi mãi về sau sẽ chỉ còn là nơi đến.

Xem thêm blog Phạm Hoài Nam

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Ngày hôm qua

Cách đây mười mấy năm, tôi có đọc một truyện ngắn nước ngoài. Truyện ấn tượng quá nên phải đem photo và gửi ngay cho cô bạn thân ở Hố Nai. Vậy mà thật tiếc, bây giờ bản chính thì bỏ đâu không nhớ, tên truyện cũng quên mất rồi, chỉ nhớ nội dung thế này:

Có một cô gái đang ở tuổi 20, một ngày kia, có một người đàn ông đến hỏi vay của cô 2 năm tuổi trẻ. Cô gái nghĩ: đời mình còn dài lắm, cho vay 2 năm thì có nghĩa lý gì đâu! Thế là cô đồng ý ký hợp đồng cho vay. Rồi năm tháng trôi qua, cô gái ngày nào đã trở thành bà lão ngoài 70 và quên hẳn chuyện cho vay năm xưa. Nhưng người đi vay thì không quên. Ông trở lại và bắt đầu trả dần cho bà lão những năm tháng 20 tuổi. Thế là cứ mỗi tuần một lần, bà lão lại chờ đợi đến ngày mình được trẻ lại, được sống những ngày tươi đẹp nhất cùng bạn bè và những người xa xưa. Cứ như thế, cuộc trả nợ kéo dài cho đến lúc bà lão nhẩm tính mình chỉ còn đúng một ngày… Câu chuyện kết thúc buồn bằng cái chết của bà lão. Bà mặc quần áo đẹp và chết trước khi quay trở lại hưởng nốt cái ngày cuối cùng hạnh phúc đó.

Bao nhiêu năm rồi, cứ nghĩ đến tuổi 20 của mình là tôi lại nhớ đến truyện ngắn này. Một đêm nào đó, bỗng dưng nằm mơ thấy đồi Tăng Nhơn Phú với ánh trăng rải tràn trên con đường mòn từ trường về ký túc xá, rồi tỉnh dậy thấy hư hư thực thực, chợt tự hỏi có phải ai đó đang trả cho mình món nợ tuổi 20 không.

Nhân ngày vui gặp nhau, xem lại ngày xưa nhé!
Le Nam-Thu Dong



Thay Liem


Nhan


Cam Le


Tien-Nghiep


Duyen-Phat-Trang


Truc-Soa












Yesterday, all my troubles seemed so far away.
Now it looks as though they're here to stay.
Suddenly,
I'm not half the man I used to be,
There's a shadow hanging over me,
Oh, yesterday came suddenly.

….

Yesterday, love was such an easy game to play.
Now I need a place to hide away.
Oh, I believe in yesterday.




Chớp mắt một cái, hôm nay sẽ lại trở thành ngày hôm qua