.comment-block img { max-width: 300px !important; }
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự kể. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự kể. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Kiễng chân

Nhớ có đôi lần, mình với bạn đã tranh
luận với nhau. Mình bảo rằng mỗi khi có dịp cần phải thi đua, cần phải chứng tỏ
bản thân là mình luôn cố gắng hết mức, có thể nói là mình luôn “kiễng chân” lên
để với tay cao hơn những người cùng với. Bạn bảo:
- Kiễng thế để làm gì?
- Để khẳng định mình.
- Khẳng định để làm gì? Có ai quan tâm đến việc mày phải cố sức thế đâu!
- Không cần ai quan tâm, chỉ cần tao biết mình cố gắng và đạt được thứ cao hơn
mọi người.
- Đó là một kiểu “làm nổi”.
- Tao không “làm nổi” (mà thật là mình đâu có muốn “làm nổi”!). Nhưng khi với
được cao hơn mọi người, tao sướng trong lòng.
- Mày tự lừa dối mình thôi. Mày vẫn chỉ cao bằng chừng đó. Có cố kiễng chân thì
thực chất mày cũng đâu có cao hơn.
- Vấn đề không phải là tao muốn mình cao hơn, mà vấn đề là tao muốn nhìn thấy
mình với tới những thứ cao hơn.
Bạn cáu:
- Nói chuyện với mày bực mình, mày ngang lắm!
Mình cũng cáu:
- Còn mày thì bảo thủ bỏ xừ!
Những cuộc tranh luận như vậy hầu như chẳng bao giờ có hồi kết.

Đó là chuyện mấy năm về trước.

Bây giờ đôi lúc mình lờ mờ nhận ra
hình như bạn nói có lý.

Bởi vì nếu chịu khó quan sát, mình sẽ
thấy được nhiều kiểu “với” mà chẳng cần kiễng chân.

Người ta có thể leo lên ghế. Không có
ghế thì đi mua ghế - dĩ nhiên!

Người ta có thể trèo lên những tấm
lưng - vốn đã khòm sẵn - của người khác.

Người ta có thể được người khác công
kênh lên (mà mục đích có khi lại là với chùm nho trên cao đưa xuống cho người ở
dưới).


Tóm lại là nhiều cách lắm. Không cần
nghĩ, chỉ cần tận mắt nhìn thấy các kiểu leo trèo là mình thấy mệt lắm rồi.
Mình muốn nói với bạn rằng “Mày nói cũng có lý, tao cứ kiễng chân thế để làm gì
nhỉ? Chỉ là thoả mãn một chút ngông nghênh của tuổi trẻ thôi!”. Đấy, mình đã định nói
với bạn như thế.

Nhưng, mỗi buổi sáng tỉnh dậy, chuẩn bị bắt đầu một
ngày mới với những công việc đang chờ đợi, đột nhiên mình lại thấy mình đang
kiễng chân…


pxAHZ48qzTdVE0RlaNE8rg

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Ác mộng


Ta thăm ngôi chùa cổ ấy lần cuối cùng là vào một mùa hè, nắng vàng như mật tràn đầy con đường dẫn vào chùa, nắng lốm đốm qua vòm lá in xuống đất nhảy nhót theo từng bước chân ta qua.

Năm ấy, ta đi công tác ở Hà Nội. Lãnh đạo chi nhánh nói miệng rằng chuyến công tác kéo dài khoảng 2 tuần, cố gắng thu xếp việc gia đình để đi. Ra đến Hà Nội, gặp đúng mùa “chiến dịch”, lãnh đạo Tổng đề nghị ta phải ở lại, thời hạn không xác định – có thể là 2 tháng – và không được phép về. Lòng ta rối bời vì thương thằng con trai mới vừa 3 tuổi, phải ở nhà với ba, không biết sẽ được ba chăm kiểu gì! Một ngày nghỉ, ta cảm thấy mình đang mất phương hướng. Ta mượn chiếc xe máy của người quen, rong ruổi về phía Hà Tây hỏi đường lên chùa, mong tìm kiếm chút tĩnh lặng cho lòng thăng bằng lại.

Chùa nằm trên một ngọn đồi, xung quanh trồng nhiều loại cây cao, gió xào xạc, mát rượi. Ta đi loanh quanh, ngắm nhìn từ mái chùa cong vút, mềm mại mà uy nghi đến tận những góc nhỏ nhất của ngôi chùa, nơi mà từng dấu ấn chạm khắc tinh xảo của các nghệ nhân xưa vẫn còn lưu lại khắp nơi. Ta sờ tay vào từng bệ đá, từng chiếc cột đã lên nước nhẵn bóng, cảm giác mơ hồ về hồn thiêng, về những Được – Mất của cuộc đời và thấy lòng dần dần thanh thản lại. Những nỗi bực dọc và khó chịu hàng ngày cứ loãng dần ra trong tiếng gió vi vu và tiếng mõ xa xa. Chọn một chiếc cột to, ta ngồi dựa lưng vào đó và thiếp đi dăm phút, vừa đủ để mơ có ai đó cho mình chiếc oản bọc trong giấy bóng tím hồng, bóc ra là dậy một mùi thơm tinh khiết.

Giấc mơ tinh khiết đó, ta giữ mãi trong lòng. Thỉnh thoảng, ở Sài gòn, giữa cái bộn bề của công việc, giữa cái nóng nực, kẹt xe, khói bụi, ô nhiễm…, ta lại mang giấc mơ ấy ra, thả cho nó bay bay lên cao, và ta bay bay lên theo, bỏ lại phía dưới vô số điều phiền muộn.

Thế mà hôm qua, các tờ báo đồng loạt đưa tin dữ: ngôi chùa ấy đã bị người ta phá. Lên mạng gõ tên chùa, ta không còn tin được vào những hình ảnh ô trọc đang phơi ra trước mắt. Cổ họng ta nghẹn đắng.


Tối về trằn trọc mãi, quá nửa đêm, ta phải bò dậy uống 2 viên thuốc ngủ. Lúc thiếp đi, ta thấy một đám người khắc khổ – trong đó có mình – đang còng lưng khuân vác gạch, ngói, xi măng, phá phá, xây xây cái gì đó. Nhìn lên dàn giáo phía trên, ta thấy một đám người khác ăn mặc lịch sự hơn, nhưng trên trán người nào cũng đóng một cái dấu đỏ có chữ “Dốt”. Họ cầm những chiếc roi dài, quất vun vút vào không khí và hò hét điều khiển đám người ở dưới.

Ta toát mồ hôi, tỉnh dậy, tự nhủ “chỉ là mơ thôi!”.
Nhưng có phải chỉ là mơ không? Ai biết!

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Sướng – Khổ: Chuyện còn dài


Vấn đề sướng – khổ là vấn đề mà mình luôn nghĩ đến. Mình đã từng viết bài Chuyện Chó Mèo để nêu phát biểu của mình về vấn đề này rồi. Hôm nay, mình lại định viết thêm.

Mình định viết kể chuyện hồi xửa hồi xưa, hồi đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Thời ấy, ở Hà Nội còn chế độ tem phiếu, mỗi người (cán bộ) chỉ được 2 lạng rưỡi thịt mỗi tháng. Cả nhà phải nhường thịt cho đứa trẻ nhỏ nhất nhà lúc đó – là mình – với mong muốn mình đầy đủ chất dinh dưỡng để được khoẻ mạnh và thông minh. Nhưng chỉ với từng đó thịt thì cả nhà có nhường kiểu gì cũng không đủ, cho nên mình bây giờ hoặc là khoẻ mạnh (thì không thông minh), hoặc thông minh (thì không khoẻ mạnh). Cái này mình không tự đánh giá được, cho nên sẽ để đấy cho bạn bè nhận xét.

Mình định kể chuyện hồi ấy, quần áo không đủ mà mặc. Hồi 4 tuổi, có lần thấy ông ngoại có một chiếc quần đùi mới, mình đã bảo “Ông ơi, bao giờ quần ông rách thì ông cho cháu xin, để mẹ cháu may áo cho cháu nhé!”. Hồi ấy, phụ nữ Hà Nội, từ già đến trẻ đều mặc một kiểu giống nhau: áo “phin” trắng hoặc xanh nhạt, quần lụa đen, dép nhựa. Một buổi sáng nào đó, mẹ mình đứng nói chuyện với bạn trai, mình nhìn thấy quần mẹ có một vết mạng rất khéo, mình đã kêu ầm lên “Quần mẹ có chữ T, tên mẹ kìa”, làm mẹ ngượng muốn chui xuống đất. Nhưng mà viết blog phải viết cho văn vẻ, trí tuệ một tí, nên mình không định nói chuyện thịt và chuyện quần áo. Mình định nói là sao hồi ấy khổ thế mà người Hà Nội không mấy ai than khổ. “Em vẫn đạp xe ra phố / Anh vẫn tìm âm thanh mới”, đời vẫn đầy niềm tin, đầy lãng mạn.


Rồi mình định kể chuyện ngày nảy ngày nay. Mình đang sống ở thế kỷ 21, và ở một thành phố lớn nhất trong cả nước. Thế nhưng nếu bạn nào đã được mình mời lên phòng ngủ thì chắc sẽ ngạc nhiên lắm, vì mình giăng mùng và ngủ chiếu (còn nhớ có lần đọc một bài bạn m â y viết từ thời xa xưa có tên là “Hồi nhỏ tôi ngủ mùng” mà thấy bùn cừi, vì bây giờ mình cũng vẫn ngủ mùng, không lẽ mình chưa lớn! Hehe). Phòng ngủ của mình không có máy lạnh, cả một mảng tường lớn là cửa sổ lắp kính. Ban đêm, mình chỉ cần mở hé 1 cánh – trong số 4 cánh cửa sổ – là đủ mát lạnh, phải đắp mền rồi. Đêm nào lãng mạn một tí thì mình nhìn ra cửa sổ, ngắm sao, ngắm những chiếc máy bay bay lướt qua bầu trời, cao hứng thì làm vài câu thơ để rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay, và sáng ra là quên sạch những vần thơ ướp hương đêm hồi hôm. Mình vẫn tự giặt quần áo bằng tay dù nhà có máy giặt. Mình vẫn tắm nước lạnh và đạp xe đạp mỗi buổi chiều thay vì mua những chiếc máy tập thể dục tiện lợi để ở nhà. Mình không trồng hoa hay cây kiểng mà trồng rau muống, mồng tơi, rau cải….


Và mình chẳng thấy mình khổ tí nào!


Mình định nói chuyện xa hơn, như chuyện bên xứ Triều Tiên chẳng hạn. Lãnh đạo Triều Tiên, mấy ông Kim Jong-gì đấy, toàn người trong một gia đình, cứ cha chết thì con lên thay. Họ ăn toàn sơn hào hải vị, ngày nào cũng có tôm hùm được tuyển, chọn những con ngon nhất mà ăn. Trong khi đó, dân Triều Tiên, k
hoảng 16 triệu người, tương đương hai phần ba dân số phải đối mặt với nạn đói. Người Triều Tiên cũng chỉ mặc có một kiểu quần áo, chẳng có Internet mà chơi FaceBook với Yahoo! (eo ơi, làm sao mà chịu nổi). Thế nhưng, hàng ngày, họ vẫn dẫn nhau đến đập đầu bôm bốp vào tượng đài Kim Nhật Thành để tỏ lòng biết ơn.


Vì họ không biết là họ khổ.


Khi không cảm thấy, hay không biết là mình khổ thì có phải là khổ không?

Định viết nhiều lắm, nhưng bỗng nhiên mình tìm thấy trên mạng có bài này, chẳng rõ tác giả là ai. Xem xong, mình sướng quá (vì chủ yếu là xem hình, chả phải đọc gì nhiều), nên quyết định không viết nữa, copy bài người khác lên cho khoẻ!














Đăng bài lên rồi mình sẽ yên tâm đi chơi mấy ngày, để cho bạn bè ra vào, đọc và bình luận. Chủ nhật mình trở về, vào nhà xem các bình luận và tiếp tục… sướng. Xem ra chuyện sướng khổ cũng đơn giản thôi, phải không?

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Âm bản

Những đứa trẻ của thế kỷ thứ 21 sẽ dần dần không còn biết đến khái niệm về máy chụp ảnh phim, và khi được hỏi “phim chụp ảnh là gì?” thì cha mẹ chúng sẽ phải trả lời dài dòng rằng “hồi xưa, lúc con chưa ra đời…”

… Vậy là hồi xưa – thực ra cũng chưa phải là xưa lắm – lúc công nghệ kỹ thuật số chưa ra đời, OM đã từng rước về nhà khoảng gần chục “anh bạn” với những “khẩu súng” dài ngắn khác nhau. Các anh cùng có chung một đặc điểm là nồi đồng cối đá, phần cơ gần như chẳng bao giờ hỏng. OM luôn có một cảm giác lâng lâng khó tả khi ôm cái body của các anh lên ngang mày, dí mũi hít hít cái mùi đặc trưng không lẫn vào đâu được, vừa thấy mình thật hạnh phúc vì có từng ấy anh trong tay, vừa thấy lòng tham của mình trở nên vô đáy vì lúc nào cũng khao khát có thêm nhiều anh nữa.

Vì yêu các anh ngày xưa quá, nên mở đề dài dòng, thực ra bài này chỉ định xoay quanh cái tựa đề “Âm bản”. Tiếp theo câu chuyện, …vậy là cha mẹ sẽ phải giải thích cho những đứa trẻ thế kỷ 21 rằng: máy ảnh hồi xưa chủ yếu chụp bằng phim âm bản. Phim âm bản sẽ được đưa vào máy rọi (phóng) ảnh để in hình xuống giấy ảnh. Giấy ảnh sau khi bắt hình từ phim rọi xuống, được nhúng vào thuốc hiện rồi ngưng lại trong thuốc hãm, sẽ cho ra những tấm ảnh để lại cho đời sau. Chuyện phòng tối rất thú vị và ly kỳ, OM sẽ kể khi nào có dịp, còn hôm nay chỉ kể về những tấm ảnh thuộc loại đặc biệt thôi.

Để có tiền chơi ảnh, OM phải làm thêm, phải đi chụp các loại “đám”. Đám cưới, đám sinh nhật, đầy tháng, thôi nôi… thì khỏi nói, vì nó luôn mang niềm vui đến cho mọi người và mang… tiền về cho OM. Nhưng ngoài các đám vui vẻ ấy ra, còn một đám khác buồn đến nẫu người – là đám ma. OM chụp đám ma xong, khuya về, đem phim vào phòng tối, ngồi một mình và làm những việc cần phải làm. Khi những tấm giấy ảnh được nhúng vào thuốc hiện, gương mặt người chết hiện lên từ từ dưới ánh sáng đỏ quạch leo lét, sóng sánh trong làn nước thuốc. Có nhiều lần, OM chợt thấy ớn lạnh, nổi gai ốc khi cảm giác ai đó đang lơ lửng đứng phía sau lưng, đang chăm chú xem những động tác mình làm. Đó chính là những giây phút mà triết lý về sự sống và cái chết luôn hiện về, lảng bảng trong bầu không khí 2m vuông đặc quánh của phòng tối.

OM trong phòng tối (Ảnh chụp khoảng năm 1990)


Người ta thuê thợ ảnh chụp đám ma vì… phải có ảnh, chứ thực ra khi đem ảnh đến cho gia đình, chẳng ai trong số họ buồn giở ra xem. Tuy nhiên, gia chủ luôn luôn cần một tấm ảnh khác, đó là ảnh chân dung để thờ. Không phải ai cũng có sẵn một tấm ảnh chân dung của người thân để chuẩn bị cho ngày người ấy ra đi. Thường thì chân dung được tách ra từ một tấm ảnh chụp chung nào đó và họ thuê OM làm lại sao cho đủ chất lượng để đặt lên bàn thờ. OM không có tiền mua ống kính macro để chụp lại những tấm ảnh nhỏ nên phải chế ra nhiều cách. Có thể quay ngược ống kính normal, một tay giữ chắc cho ống kính khít vào thân máy, tay kia bấm nút chụp. Cách này nhanh nhưng hơi khó và ảnh thường chỉ rõ phần giữa, mờ xung quanh. Cách thứ hai là lại… vào phòng tối! Trong bóng tối hoàn toàn, OM cắt một đoạn phim chưa tráng gắn vào máy rọi với mục đích biến máy rọi thành máy ảnh. Đặt tấm ảnh nhỏ xíu xuống mặt bàn và hắt vào đó một nguồn sáng trong tích tắc, tấm phim sẽ bắt được hình của tấm ảnh và ta có được một phim âm bản. Trong khoảnh khắc khi ánh sáng đèn loé lên, bắt vào gương mắt người đã khuất, nếu điều đó diễn ra một trăm lần thì cả một trăm lần OM đều cảm giác như người đó vụt sống dậy. Hàng ngàn thước phim cuộc đời họ, những buồn - vui, được - mất, hạnh phúc - đau khổ… như vừa quét qua và cô đặc lại trong một giây loé sáng.

Sau khi đem tấm phim âm bản đó rọi lại và in ra thành ảnh, OM còn một công đoạn nữa là ngồi “tút” lại ảnh. Công việc là dùng mũi dao lam cạo lên những vùng bị rạn, bị xước để giấy ảnh có thể bám màu và dùng một loại màu đặc biệt chấm lên đó. Việc này đòi hỏi tập trung cao độ, khéo tay và tỉ mẩn. Vừa làm, OM vừa “trò chuyện” với bức ảnh “Ông / Bà chịu khó tí nhé, cháu làm cẩn thận cho đẹp, để cho con cháu ông / bà hàng ngày nhìn, nhớ đến ông / bà những lúc đẹp lão như thế này…” OM làm công việc đó, trước tiên là để có tiền – tất nhiên – nhưng có lẽ cũng không hẳn là để có tiền. Làm để mà làm thôi, cứ làm như thế với hết khả năng và tấm lòng của mình và cảm giác mình đã lưu giữ được những điều đẹp đẽ.

Khi ông bà ngoại bước sang tuổi “xưa nay hiếm” cũng là lúc OM đã thôi chơi ảnh, ông bà nhờ OM đem ảnh ra tiệm thuê người ta làm sẵn cho những bức hình thờ. OM không muốn đem ra tiệm vì người ta chỉ làm cho tấm hình “nhẵn nhụi”, da dẻ hồng hào, đẹp lên theo cách mà thợ ảnh cho là đẹp. OM muốn tự tay làm hình cho ông bà với tất cả những tình cảm của mình. Này là mái tóc bạc phơ của ông bà – mái tóc mà lúc OM chào đời, nó vẫn còn đen nhánh, mái tóc mà khi lớn lên một chút, OM đã bao lần vừa tìm nhổ những sợi bạc, vừa nghe ông bà kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Này là ánh mắt yêu đời, mãi trẻ trung cho đến tận những ngày cuối đời của ông. Này là cái vết nám nho nhỏ trên má của bà mà lần nào ra Hà Nội, OM cũng phải sờ lên đó…, OM muốn giữ lại tất cả…

Chỉ có một tấm hình thờ mà OM hầu như không sửa chữa gì cả, đó là tấm hình của ba. Ba mất đi ở tuổi 55, cái tuổi mà người ta còn sung sức lắm, còn yêu cuộc đời này lắm… OM không sửa và cũng không thể sửa gì được, vì một khi trái tim ta còn đau thì bàn tay ta chẳng thể làm được việc gì cho chính xác.

Hôm rồi về quê, thấy má (chồng) đã chuẩn bị một bức ảnh thờ. Thợ ảnh sửa cho gương mặt má thành “mặt hoa da phấn láng o”, phông nền phía sau tím tím hồng hồng như phông nền đám cưới. Má có vẻ không hài lòng. OM hứa “Con về nhà sẽ làm cho má một tấm thật đàng hoàng”. Nói là làm. OM tìm được một tấm má không cười, nhưng ánh mắt có sẵn nụ cười sâu ở bên trong. Nụ cười của một người mẹ mãn nguyện khi thấy đàn con mà mình đã chắt chiu từng chén cơm, từng tấm áo nuôi cho khôn lớn, nay đã trưởng thành. Bây giờ có công nghệ kỹ thuật số, làm hình khoẻ rồi, cứ nhẩn nha trên photoshop, làm không ưng thì lại sửa. Vừa làm ảnh cho má trên máy tính, OM vừa tủm tỉm cười, hình dung mình 40 năm nữa cũng sẽ phải làm hình thờ. Lúc ấy, bà OM gàn dở chắc là sẽ nhất định không cho con cháu đem hình mình ra tiệm vì “lỡ chúng nó sửa bà thành mặt hoa da phấn, xoá mất tiêu mấy cái tàn nhang trên má thì còn gì là bà nữa!”

Đó là nghĩ cho vui, có khi đến lúc ấy, công nghệ sẽ chuyển sang một loại hình mới, không biết chừng lại quay về Âm bản! Thì sự phát triển của xã hội mình đôi khi vẫn ngược dòng đấy thôi, chẳng đoán trước được! Chỉ có một điều chắc chắn là chúng ta đang sống trong thế giới Dương bản, nhưng cũng đôi khi ta đứng thật lâu trước tấm ảnh của người thân và cảm nhận một cách rõ ràng rằng: gương mặt thân yêu đang nhìn thẳng vào ta là nhân chứng cho sự giao thoa giữa Âm bản và Dương bản…
Suy nghĩ thế có trừu tượng quá không?

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Memory

Ngoài những món quà mà phụ nữ nào cũng muốn được nhận, mình còn thích một vài thứ khác. Như bây giờ, nếu có ai hỏi mình muốn nhận được quà tặng gì thì mình sẽ trả lời ngay…

Trả lời ngay, nhưng mà trước tiên phải kể lể một chút.

Về nghề nghiệp chuyên môn, có thể nói cái nghề của mình cần rất nhiều tư liệu. Hồi xưa, cạnh bàn làm việc của mình ở cơ quan có cả một chiếc tủ to đựng các loại tư liệu, chủ yếu là sách, kế đến là tạp chí và hình ảnh cắt từ các loại nguồn. Sách thì mình nhớ vị trí, nhớ nội dung trong ruột sách nên cần gì thì tìm ra ngay. Ảnh thì xếp theo từng chủ đề nên việc tìm kiếm cũng dễ. Chỉ có tạp chí là không thể nhớ được, nên phải có quyển sổ ghi chép tạp chí số mấy số mấy có bài gì bài gì…

Về sở thích thì thứ làm mình mê nhất là phim ảnh. Thời còn con gái, thỉnh thoảng mình phải đi thuê đầu xem băng video về, cả nhà tụ tập nằm ngồi, nhiều khi mang cả tô cơm ra trước TV để vừa ăn vừa xem. Thời đó, phim được đánh ra băng lậu, hình ảnh lèm nhèm, lời dịch thuyết minh thì vô cùng “chợ búa”, cứ vài phút là lại thấy nhân vật trên phim chửi “đồ chó chết”, thành ra ăn cơm cứ như là nhai phải sạn (là nói cho dễ nghe, chứ đúng ra thì cứ như ăn cơm với thịt chó chết vậy)   Đến thời lấy chồng, mình vớ được một anh giai còn mê phim hơn cả mình. Đầu VCD đắt như vàng mà anh sẵn sàng bỏ một cục tiền ra mua, xem ra còn dễ hơn đi mua một két bia. Mua đầu về thì phải mua đĩa. Qua thời đĩa VCD thì đến thời DVD, không thuyết minh, không phụ đề, vừa xem vừa đoán. 10 năm sau khi có đầu máy, nhà mình trở thành một kho chứa đĩa phim – bỏ đi thì tiếc mà giữ lại cũng chẳng biết để làm gì.

Kể lể xong rồi, bây giờ ai hỏi mình thích gì, mình sẽ trả lời ngay: thích ổ cứng. Không kể ổ cứng gắn trong, nhà mình hiện còn có 4 cái ổ cứng rời, dung lượng mỗi ổ từ 320 đến 500GB, thế mà vẫn chưa đủ.

Này nhé, có thêm ổ cứng, mình sẽ lưu trữ được nhiều sách hơn, nhiều tạp chí hơn, nhiều tranh ảnh hơn, nhiều phim hơn…

Có thêm ổ cứng, mình cảm thấy giàu có hơn vì được nắm trong tay cả kho tư liệu, kiến thức.

Có thêm ổ cứng, mình cảm thấy quá khứ không quá xa và bạn bè thật gần vì bao nhiêu ảnh mình chụp đều được lưu giữ lại.

Có thêm ổ cứng, mình cảm thấy đời vui hơn vì những lúc rảnh rỗi không phải chầu chực xem những bộ phim mà nhà đài đã cắt phéng hết tất cả những đoạn mát mẻ lẫn nóng bỏng.

Có thêm ổ cứng, mình cảm thấy…

Ồ, mà cảm thấy gì nhỉ, khi có những điều không thể lưu vào ổ cứng?

như buổi chiều hôm qua Sài Gòn mưa…

như quán karaoke vắng khách chỉ có T và mình - thật gần mà cũng thật xa …

như những bài hát T hát riêng cho mình nghe với ước muốn : Giá mà một lần nào đó, T được sống hoàn toàn theo tiếng gọi từ trong sâu thẳm…

như tim mình có lúc loạn nhịp khi chỉ cần nhích sang bên chút nữa là sẽ xoá sạch khoảng cách giữa mình và T…

như sợi dây nối một chiều mưa đã xa lắm rồi với chiều mưa Sài Gòn mới hôm qua…

Ước gì có loại ổ cứng lưu trữ được những điều như vậy…

Nhưng để làm gì nhỉ? Nếu có loại ấy thì chắc mình cũng lại đem nó cất vào một góc nào đó thôi, để tối tối vẫn lôi những ổ cứng bình thường ra, cắm vào TV và rủ chồng: “Phim hấp dẫn, không bị cắt đoạn nào nhé, anh xem với em không?”

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

17 cái xuân ngời

Bạn í là bạn trai của mình. Mình không nói tên thật của bạn í ra đây đâu, vì bạn í đọc được thì kỳ lắm! Tạm gọi bạn í bằng tên viết tắt thôi nhé, tên bạn í bắt đầu bằng chữ L. Mình kết bạn với L. thấm thoát đã được 17 năm rồi.

Lúc mới quen L, mình nghe mọi người khen L đẹp trai lắm, nhưng thực ra mình thấy cũng bình thường thôi, được cái trắng trẻo, lông mày đậm, mắt to, hiền, nụ cười dễ thương. Bạn của L cũng là bạn của mình, nên trong một lần cùng nhau đi ăn uống, mình quen L ở một quán gỏi vịt. L nhìn mình cười, còn mình thì – trời xui đất khiến thế nào lại vớ phải miếng thịt vịt dai nhách – nên cứ loay hoay, nhè ra thì bất lịch sự, mà nuốt vào thì không xong. Ăn xong, ra về, trong đầu mình chỉ còn mỗi món thịt vịt, chẳng có tí hình ảnh nào của L trong tâm trí. Lần thứ 2, mình gặp L ở quán gỏi cá. Quán ồn ào, nóng nực, L ngồi cạnh nói gì đó với mình, câu được câu mất. Câu mà mình nghe rõ nhất là “lần trước mình đã gặp nhau, em quên rồi à?”. Mình thú nhận “Em chẳng nhớ gì cả!”. L cười hiền, chả tỏ vẻ gì là bất mãn. Lần thứ 3, mình gặp L ở một quán nhậu không tên. Lần này thì mình nhớ mặt L rồi. Chuyện trò vui vẻ đến khuya rồi L đưa mình về một đoạn đường.

Nửa năm sau, mình đăng ký thi vào trường Mỹ thuật. Trước giờ thi, mình ăn sáng ở quán gần trường và lại gặp L.
- Em đi đâu thế? -  L hỏi.
- Em đi thi.
- Anh cũng đi thi.
Rõ là ý Trời!


Mình thi đậu thủ khoa, còn L thì đậu vớt, nhưng L chẳng lấy đó làm phiền. Vào học cùng một lớp, bạn í lập tức vượt lên trên mình. Mình vẫn được điểm cao hơn bạn í, nhưng trong thâm tâm, mình biết khả năng của bạn í trên mình một bậc. Mình ức lắm, cố gắng mọi cách để “qua mặt” L, nhưng cứ qua được một lần thì lần sau L lại vươn lên một tầng cao mới mà mình không sao bắt kịp. Một năm học trôi qua trong những cuộc chạy đua như vậy, và kết thúc năm học, thế quái nào chuyện lại xảy ra như thế này:


DamcuoiLiem-THuong.jpg



Mình mặc áo dài đỏ cười nhắm cả mắt, còn L mặc complet đen đang cười hết ga đó!

17 năm trôi qua, L làm mình shock nhiều lắm, sóng gió cũng không ít, nhưng mình tự hào là chúng mình chưa đập bể cái chén nào nên cũng không phải nhờ ai hàn gắn, chúng mình cũng chưa viết tờ đơn nào nên cũng chẳng có gì để xé. Dẫu biết là cuộc sống này chẳng có gì tròn trịa nhưng mình vẫn cầu mong mãi mãi là như thế.

Hôm rồi, kỷ niệm 17 năm ngày mình mặc áo dài đỏ và L cười hết ga, mình rủ L đi Bình Qưới. Đường đến Bình Qưới phải đi qua Thanh Đa. Chúng mình đi qua quán gỏi vịt, đi qua quán cháo cá, đi qua quán nhậu không tên, đi qua 17 cái xuân ngời vừa dài dằng dặc, vừa ngắn như một giấc chiêm bao và mình hiểu là trên đời này có một đôi điều thật giản dị nhưng lại vô cùng quý giá.

Bạn L thì vẫn cười vô tư, chẳng biết bạn í có nhìn thấy điều quý giá đó không?






Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Đường ra Hồ Đá Xanh

Tôi tin rằng ai đã từng học ở trường ĐH đó, vào khoảng thời gian đó thì cái tên Hồ Đá Xanh sẽ nằm mãi trong ký ức của họ đến suốt cuộc đời.

Con đường dẫn ra Hồ Đá Xanh thời đó là một con đường nhỏ, vắng vẻ, thi thoảng mới có bóng người qua lại. Một vài buổi chiều tuổi hai mươi nào đó, thấy trong lòng chợt buồn vu vơ, tôi thường ra Hồ Đá Xanh một mình, ngắm mặt nước lặng như tờ với màu xanh khó diễn tả, nửa như màu ngọc, nửa như màu của những đám rêu trăm năm tuổi. Tôi đứng đó, suy nghĩ về những vấn đề triết lý cao siêu mà thực ra mình chẳng hiểu mấy, sau triết lý thì nghĩ đến đề tài muôn thuở mà đám con gái cùng phòng ký túc xá luôn nhắc đến những lúc rảnh rỗi: đề tài về những cậu con trai cùng lớp, cùng trường hoặc chẳng cùng lớp cũng không cùng trường.

Có vài cậu con trai như vậy đi qua con đường đến Hồ Đá Xanh, đi qua tuổi hai mươi của tôi.

Đầu tiên là anh A với mái tóc đen dày dợn sóng, gương mặt và đôi mắt đẹp luôn ánh ánh một nụ cười đầy bí ẩn. Anh học năm cuối ĐH, vừa đủ thời gian để vắt vai một mối tình trước khi quen tôi. Thỉnh thoảng anh rủ tôi ra Hồ Đá Xanh chơi. Anh và tôi đi dạo trên con đường nhỏ vắng tanh từ lúc mặt trời đỏ ối chiếu những tia sáng cuối ngày xuống mặt hồ cho đến khi trăng lên lấp lánh ẩn hiện trên làn nước đen thẫm. Tôi nói về thơ văn, còn anh lắng nghe, vẻ rất quan tâm. Thỉnh thoảng tôi hỏi anh đã đọc tác phẩm này, tác phẩm kia chưa, anh trả lời là “có nghe nói, nhưng chưa đọc”. Nói mãi về văn chương, cũng đến lúc tôi “cạn vốn” nên đề nghị đến lượt anh nói. Anh bèn nói về vi khuẩn. Theo anh biết thì khi hôn nhau, người ta được tiếp nhận những loại vi khuẩn có lợi cho sức khoẻ. Tôi hỏi “thế trước đây, anh đã được tiếp nhận nhiều vi khuẩn có lợi cho sức khoẻ chưa?”, anh trả lời “Rồi. Bây giờ muốn tiếp nhận thêm”. Tôi nghĩ đến những con vi khuẩn và thấy nụ cười trong đôi mắt đẹp của anh hoá ra không có gì bí ẩn. Tôi bỏ về phòng, còn anh thì ngơ ngác mệt mỏi với tính cách phức tạp của đám con gái Văn. Sau đó, tôi vẫn không thể quên được những con vi khuẩn mỗi khi gặp anh, nên có đôi lần, tôi đã để anh đứng mỏi chân trước phòng mà không ra mở cửa. Anh học hết năm cuối, tốt nghiệp, đi làm và chúng tôi chia tay nhau.

Người thứ hai đi cùng tôi trên con đường đến Hồ Đá Xanh là anh B mắt tròn, tóc nâu, gương mặt trẻ con ngây thơ. Tôi yêu gương mặt ấy, yêu cái vẻ trẻ thơ hoàn toàn không xứng với sự già dặn của tôi lúc bấy giờ – hay ít ra tôi cũng tự nghĩ mình già dặn như vậy. Chắc anh B cũng yêu tôi, nhưng ngoài tình yêu ra, anh còn một một loại cảm xúc khác gần như sự ngưỡng mộ. Tất tất những gì tôi làm, tôi nghĩ, tôi phát biểu, anh đều coi là chuẩn mực. Thỉnh thoảng, muốn trêu tức anh, tôi cố tình làm những chuyện khá “chướng”, nhưng anh chỉ im lặng, không nổi nóng, không to tiếng. Ôi chao, cái tuổi hai mươi ngồng cuồng! Lúc đó không hiểu sao tôi lại thèm cãi nhau đến thế! Tôi muốn sau những lần tôi cố ý gây sự, anh phải nổi giận, phải chứng tỏ anh cao hơn tôi và có quyền “dạy bảo” tôi. Tôi đã chờ đợi sự nổi giận của anh cho đến một ngày chính tôi nổi giận và thực sự mệt mỏi với mình, với tình yêu của mình.

Trong một lần mệt mỏi như vậy, tôi lại ra Hồ Đá Xanh. Trên con đường nhỏ, dưới ánh nắng cuối ngày, tôi nhìn thấy một người ngồi bên hồ, trên đùi là chiếc bảng vẽ với một bức ký hoạ đang vẽ dở. Anh C không nhìn thấy tôi vì anh đang chăm chú thu cả bầu trời, cả hồ nước có màu rêu trăm tuổi lên bức ký hoạ của mình. Tôi sững người, cảm thấy bên trong con người có tầm vóc nhỏ bé kia là cả một tâm hồn rộng lớn. Không nhớ có lúc nào tôi có yêu anh C không, nhưng sau đó chúng tôi có đi chơi với nhau vài lần. Anh C già dặn, từng trải. Với tuổi hai mươi non nớt, tôi cho rằng anh là sự kết hợp khó hiểu giữa lãng mạn và thực tế, giữa nghệ sĩ và giới làm ăn, giữa thiên thần và quỷ sứ. Tất nhiên đấy chỉ là cảm nhận của tuổi hai mươi. Tôi hỏi anh: “Có biết con đường tiếp theo dẫn đi đến đâu không?” Anh trả lời: “Hôm nào em với anh cùng đi rồi sẽ biết nó đến đâu”. Tôi sợ. Tôi không đi với anh, cũng biết anh có cùng ai đi tiếp con đường đó không? Có thể người đi với anh là một người bạn cùng lớp, cũng có thể ở lớp khác, cũng có thể không ai cả. Chỉ biết rằng con đường dẫn anh với tôi đến Hồ Đá Xanh chỉ dừng lại ở đấy.

Hai năm cuối ĐH, chúng tôi chia tay con đường nhỏ để về lại thành phố ồn ào, nơi có trăm ngàn con đường rẽ về trăm ngả.. Mãi sau này, khi đã ra trường, tôi vẫn nhớ và cố gắng thỉnh thoảng ngược hơn 20 cây số trở lại, đôi khi chỉ để đứng lặng một lúc nhìn mặt nước hồ có màu xanh khó diễn tả ấy và se sắt nhớ thương một giấc mơ thơ trẻ của mình.

Còn nhớ năm ấy, tôi 24 tuổi, chưa lập gia đình, đang được anh D – một sinh viên Mỹ thuật – để ý. Anh D hỏi tôi có nơi nào không khí trong lành, khung cảnh lãng mạn để chúng tôi có thể đi chơi được không, tôi lập tức nghĩ ngay đến con đường dẫn đến Hồ Đá Xanh. Anh D hôm đó diện một chiếc áo đỏ, nổi bật với mái tóc đen quăn tự nhiên và làn da trắng mịn. Anh nói chuyện nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng lại cười bẽn lẽn khi tôi kể cho anh nghe nơi đây đã từng là nơi lũ con gái văn chương chúng tôi mặc sức tung hoành như thế nào. Có vẻ lần đó, anh D chuẩn bị ngỏ lời với tôi thì phải. Nhưng chắc chúng tôi không có duyên với nhau, nên trong một giây phút trớ trêu, khi vượt qua một đàn bò đang nghêng ngang trên đường, chúng tôi đã để tuột mất nhau. Như đã kể, anh D mặc một cái áo đỏ. Không rõ có phải vì màu đỏ ấy làm cho một ả bò cái không “vừa mắt” không mà ả lồng lên đuổi theo anh. Anh cuống cuồng, bỏ chạy thục mạng vào vườn điều ở gần đó, bỏ cả bạn gái ngơ ngác – là tôi – đứng chơ vơ trên con đường đầy lãng mạn tuổi 20. Sau lần đó, tôi chủ động chia tay anh. (Mà gọi là “chia tay” cho oai thôi, chứ nào đã có ai ngỏ lời với mình đâu!).

Tiếp theo anh D là anh L lại được tôi dẫn trở lại con đường ra Hồ Đá Xanh. Tôi kể cho anh L nghe chuyện ả bò cái. Anh L. nắm chặt tay tôi cười mãn nguyện: “cám ơn con bò cái đã khiến anh có ngày hôm nay được đi với em!”.

Sau chuyến đi chơi, một ngày kia tôi lên xe hoa với anh L.

Bonus: Tất nhiên, như hầu hết các câu chuyện cổ tích – nhân vật chính lên xe hoa là chuyện kết thúc – chuyện của tôi cũng vậy, chỉ khác một chút là tôi còn vài lần cùng với anh A, rồi cùng anh B quay lại con đường dẫn đến Hồ Đá Xanh. Anh A bảo “Hồi ấy mình còn trẻ quá, chia tay mà chẳng rõ vì chuyện gì”. Tôi đáp: “Khi còn trẻ, người ta có thể có vô vàn lý do lãng nhách để chia tay nhau, nhưng mừng là cả anh cả em đều có một kết thúc tốt đẹp”. Anh B thì bảo “Nhìn lại chúng mình đi, bây giờ đáng tuổi cô tuổi chú so với các bạn trẻ ở đây. Già mất rồi!”. Tôi không nhìn thấy mình, nhưng có thể nhìn lại anh B. Ừ, quả là anh già thật! Không còn cái vẻ ngây thơ trong trắng để một con bé “quái chiêu” như tôi có thể bắt nạt đủ điều.

Lần họp lớp năm ngoái, bạn Cô Gái Đồ Long cũng đánh xe hơi đưa mấy đứa con gái lớp tôi trở lại con đường cũ. Không còn là con đường nhỏ vắng tanh như xưa, bây giờ con đường trở nên to lớn ngoài sức tưởng tượng và ban đầu đã làm chúng tôi mất phương hướng. Khi định thần trở lại, chợt có một chút gì đó quá đỗi thân quen lướt dọc mơn man trong tâm trí tôi.

Dù bạn đã trở thành người như thế nào, dù bạn đã đi đến đâu, dù bạn đã có một kết thúc có hậu hay vẫn còn chờ một câu chuyện cổ tích đến với mình thì tôi vẫn tin rằng cái tên Hồ Đá Xanh sẽ nằm mãi trong ký ức của các bạn đến suốt cuộc đời.

Tue Huong-Ho Da Xanh
Photo: De&Soi

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

10 tuổi

 Ti Nhan 10 tuoi 2

Ngày 19 này mới đến sinh nhật Tí Nhân, nhưng do sinh nhật cận Tết quá, cha con lại sắp sửa về quê nên mẹ quyết định tổ chức sinh nhật cho bạn í sớm hơn một chút.

Tí Nhân phấn khởi nhẩm tính kế hoạch, với số tiền khoảng 1 triệu (mẹ cho tiền trọn gói như vậy), kể cả nước ngọt và bánh kem thì sẽ làm món gì và mời bao nhiêu người. Mẹ gợi ý cho vài món, cuối cùng Tí Nhân quyết sẽ đãi 3 món là thịt gà ragout bánh mì, chả giò và bắp xào. Bạn bè thì – sau khi suy nghĩ kỹ – Tí Nhân quyết định mời 8 người.

Nhà mình ở quận 7 hầu như chẳng có bạn bè gì nên Tí Nhân tổ chức sinh nhật ở nhà Ngoại. Buổi sáng, Tí Nhân sang nhà Ngoại, vừa bước xuống xe, việc đầu tiên là bạn í đứng ngay trước cửa lớn tiếng thông báo “tối nay Tí Nhân làm sinh nhật lúc 6 giờ”. Lập tức, bạn bè từ các nhà trong xóm bỗng chốc túa cả ra đường, râm ran bàn tán sôi nổi. Tí Nhân vào nhà lôi ra xấp thiệp mời và bắt đầu viết. Các bạn chạy vào đứng xung quanh thi nhau đọc tên của mình cho Tí Nhân ghi vào thiệp, ghi xong tấm thiệp nào là lập tức chủ nhân của tấm thiệp giật ngay chiếc phong bì có tên mình và giữ khư khư với vẻ mặt hết sức mãn nguyện. Tình hình “gay cấn” như vậy, nên Tí Nhân không thể mời 8 bạn như dự định, mà con số giờ đây lên đến 12 khách mời, cộng thêm nhân vật chính nữa là 13. May quá, mẹ có đầy kinh nghiệm trong chuyện này nên đã chuẩn bị thiệp khá dư dả. (Chẳng là cứ mỗi lần mẹ mời bạn bè đến nhà thì vào phút chót, ba lại tranh thủ mời thêm bạn của ba, “đánh úp” làm cho mẹ không kịp trở tay. Đầu tiên mẹ bực lắm, nhưng lâu dần mẹ cũng quen và bây giờ thì… ngon rồi, vì luôn có kế hoạch dự phòng).

8 tiếng chờ đợi đến giờ khai tiệc trôi qua chậm chạp. Cả xóm xôn xao bàn tán với nhau xem mua quà gì. Bạn thì rút ống tiết kiệm, bạn thì xin tiền bố mẹ, bạn thì mặc định đi mua quà là bố mẹ phải chở đi. Quà mua xong rồi được chuyền tay nhau xem trước với lời dặn dò phải cực kỳ giữ bí mật, không để Tí Nhân biết.

Còn nửa tiếng nữa mới đến 6 giờ, cả 12 bạn đã thập thò trước cửa. Mấy bạn sốt ruột quá còn leo lên bờ rào, thò cổ nhìn vào. Tí Nhân lăng xăng chạy tới chạy lui, mặt mày “nghiêm trọng”, thỉnh thoảng lại nhìn ra cửa xua tay: “chưa đến giờ!”. Mẹ có 30 phút rảnh rỗi để ngắm nhìn Tí Nhân. Năm ngoái, Tí Nhân để đầu đinh, cái đầu tròn vo với “sọ khỉ” phía sau hoàn hảo không lẫn vào đâu được, ai cũng khen đẹp, ai cũng muốn sờ một cái. Thế mà năm nay bạn í nhất quyết phải có mái tóc dài để thỉnh thoảng vuốt nước cho nó dựng lên. Bạn í không muốn mái tóc là của mình mà lại để cho người khác quyết định.

Mẹ nhớ hồi xưa, lúc 10 tuổi, mẹ nhất nhất nghe theo lời của ông bà ngoại (tức là bố mẹ của mẹ – là ông bà ngoại của Tí Nhân). Ông bà bảo gì mẹ làm nấy. Hàng tháng, bà ngoại tự tay cắt tóc cho mẹ – và cắt cho mẹ đến tận những năm mẹ học đại học. Mẹ không được phép và cũng không bao giờ có ý nghĩ sẽ làm trái lời ông bà. 10 tuổi, mẹ biết làm nhiều việc lắm, kể cả việc lao động để kiếm tiền. Mẹ đi học một buổi, buổi còn lại thì xắt rau muống, nấu cám heo, rửa chuồng và tắm cho heo. Heo là của ông bà nuôi để kiếm tiền bù thêm vào đồng lương ít ỏi hàng tháng. Ông bà nuôi heo, còn mẹ tranh thủ nuôi gà thả chung với heo, ăn cám của heo. Gà của mẹ đẻ trứng, mẹ bán trứng lấy tiền để dành. Tiền đúng là tiền của mẹ, nhưng tiêu xài gì thì là quyền quyết định của ông bà. Tất cả mọi người quen với gia đình đều bảo mẹ ngoan, và mẹ cũng nghĩ như vậy.

Bây giờ, Tí Nhân dở nhiều thứ so với mẹ hồi đó. Tí Nhân chỉ biết mỗi việc học, còn ngoài ra thì làm việc gì cũng lóng ngóng. Nhớ năm lớp 4, có lần mẹ phải nằm bệnh viện gần một tuần lễ, mẹ đã tranh thủ ngốn hết cả ba tập truyện Con đường đau khổ của A. Tolstoi, còn Tí Nhân đến giờ này vẫn chỉ biết đọc truyện tranh. 10 tuổi, mẹ biết bịa ra các loại chuyện cổ tích kể cho dì Phúc mỗi tối để “đổi công” dì Phúc gãi lưng cho mẹ, còn Tí Nhân thì kể một câu chuyện xảy ra ở lớp thôi cũng không đến đầu đến đũa. Nói chung, mẹ “giỏi” hơn Tí Nhân nhiều lắm!

Thì đấy, ai cũng khen mẹ mà! Mẹ đã từng nhận những lời khen của mọi người như một điều hiển nhiên. Khi Tí Nhân ra đời, mẹ cũng dạy Tí Nhân theo cách ông bà ngày xưa đã dạy mẹ. Lúc nhỏ, bạn Tí Nhân cũng ngoan lắm cơ. Mẹ nói gì bạn í cũng nghe theo vì bạn í coi mẹ như là thần tượng. Nhưng rồi đến một ngày, khi ba kể chuyện ngày xưa ba giỏi thế nào, mẹ cũng kể chuyện ngày xưa mẹ giỏi ra sao, đột nhiên Tí Nhân buông một câu “Ba mẹ cái gì cũng giỏi, con cái gì cũng dở, con biết rồi! Nhưng tại sao ba mẹ giỏi mà bây giờ ba mẹ cũng nghèo chứ chẳng giàu?”.Tí Nhân làm cả ba lẫn mẹ đều sững người.

Mẹ chợt hiểu ra, cái mà ngày xưa mọi người coi là “ngoan”, thực ra chưa c hắc đã là điều hay. Suốt 11 năm phổ thông, mẹ đã học cho ông bà chứ không phải học cho mình. Mẹ đã nghe lời ông bà từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn mà chưa một lần nghĩ đến việc chủ động quyết định những vấn đề của mình. Mẹ đọc rất nhiều sách, nhưng suốt những năm phổ thông, chưa bao giờ mẹ được là học sinh giỏi văn chỉ vì mẹ luôn thụ động, luôn làm bài tập làm văn theo ý của thầy cô giáo…

Nhưng cũng may mà Tí Nhân đã làm cho mẹ chợt tỉnh. Tỉnh rồi, mẹ sẽ không bao giờ nói câu “Con phải cố gắng học giỏi để vui lòng thầy cô giáo, vui lòng ba mẹ”. Điều ấy không sai, nhưng bạn Tí Nhân có cố gắng học giỏi thì điều trước tiên phải là để khẳng định bản thân mình đã, rồi mới đến việc làm vui lòng mọi người chứ!

6 giờ đúng. Đã đến giờ khai tiệc. Bạn Tí Nhân chạy ra mở cửa, khoát tay: “Đến giờ rồi!” Cả 12 bạn ùa vào như một cơn lốc.

10 tuổi, mẹ chưa một lần nào được tổ chức sinh nhật như Tí Nhân đâu. Chỉ với ví dụ so sánh đơn giản thế thôi, mẹ cũng có cơ sở để đặt một niềm hi vọng rằng Tí Nhân sẽ sung sướng hơn mẹ. Điều gì mẹ không làm được hôm nay có thể – một phần nào – là hệ quả của ngày hôm qua. Vì thế, mẹ tạo điều kiện cho Tí Nhân  tự quyết những vấn của bạn í (trong phạm vi có thể), để mai này bạn í sẽ giành quyền chủ động quyết định cuộc đời của chính mình. Mẹ nhìn Tí Nhân hân hoan giữa đám bạn bè. Yêu lắm, con trai của mẹ!

Ti Nhan 10 tuoi 3
Ti Nhan 10 tuoi

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Bưu điện thành phố

Lên mạng mà gặp một bài viết có tựa đề khô khan kiểu như “Bưu điện thành phố” thì chắc mình sẽ chẳng bao giờ click vào, chứ đừng nói đến chuyện sẽ bỏ thời gian ra xem. Thế nhưng hôm nay - trong làn không khí lành lạnh của những ngày cuối năm, khi Sài Gòn nắng hanh, gió nhẹ vừa đủ để thổi tung đám lá vàng trên mặt đường - thì bỗng nhiên mình lại có hứng viết về cái bưu điện trung tâm ấy.

Ngày xửa ngày xưa, vào những năm 80 của thế kỷ trước, có con bé mười mấy tuổi đã từng mê mẩn bưu điện trung tâm này. Ở vào cái tuổi mới lớn, nhu cầu giao lưu bạn bè của nó xem ra là vô bờ bến. Nó giao lưu với các anh bộ đội ngoài biên giới, hải đảo, các anh thanh niên xung phong ở tận mấy nông trường Đakmil, Đăknông xa lắc …, nó cũng có những người bạn mắt xanh tóc vàng chưa bao giờ gặp mặt, ở mãi tận đẩu tận đâu xứ Đông Âu xa xôi mà nó mới chỉ biết đến qua một vài truyện dịch tình cờ đọc được ở đâu đó. Thời ấy, chuyện giao lưu chỉ được thực hiện dưới mỗi một hình thức là thư gửi qua đường bưu điện. Những lá thư được nó viết nắn nót trên những tờ giấy A5 gập đôi, tờ nọ lồng vào tờ kia và bấm kim ở chính giữa như một quyển sách nhỏ. Nó mê viết thư như trẻ con bây giờ mê xem phim hoạt hình và chơi game vậy. Mỗi lá thư viết xong, nó đều cho vào phong bì trắng tự làm, cẩn thận dán một con tem ngay ngắn và đạp xe lên tận bưu điện trung tâm để bỏ thư vào thùng. Sau đó là những ngày chờ đợi. Mỗi lần bác đưa thư đi chiếc xe đạp – với tiếng chuông leng keng không lẫn vào đâu được – là nó lại chạy ra sân nhìn theo cho đến khi bác đi khuất. Xen vào giữa vô số lần bác đi ngang qua như vậy là những lần bác dừng lại gọi: “HTH, có thư!”. Nó vồ lấy những bức thư với các kiểu phong bì khác nhau, có phong bì làm bằng giấy vở học trò, có phong bì mua sẵn với dòng chữ “gửi máy bay” in ở góc dưới, có phong bì in màu thật đẹp còn thơm mùi giấy nước ngoài. Nó cầm những chiếc phong bì trên tay với niềm sung sướng không lời diễn tả.

Thực ra ngoài chuyện gửi và nhận thư, nó cũng có đôi lần được gọi đến bưu điện để nghe điện thoại đường dài. Đó là những lần anh bạn trai là thuỷ thủ tàu viễn dương, đang lênh đênh ở đâu đó,  bỗng dưng “nổi hứng” muốn nghe giọng nói của nó. Vào một giờ hẹn trước, nó phải trực sẵn ở quầy điện thoại, khi cô nhân viên bưu điện bắt được tín hiệu thì nó cầm máy lên. Thường thì anh nghe thấy giọng của nó, nhưng nó không nghe được giọng của anh, cô nhân viên bưu điện phải làm chiếc cầu nối. Cô bảo: “Anh ấy nói anh ấy rất nhớ em, anh ấy nói Tết này anh sẽ về, anh ấy bảo anh đang ở Hồng Kông…” vân vân và vân vân. Hình như lúc ấy nó chỉ coi anh như một người bạn nên những cuộc trò chuyện như vậy không để lại cho nó một ấn tượng sâu đậm nào. Bưu điện là nơi để nó gửi đi tình yêu thương của mình chứ không phải là nơi để nhận những lời nói ngọt ngào.

Đối với nó, bưu điện cũng còn có một sức hấp dẫn khác.

Hồi ấy nó đang học cấp III. Nói đến trường cấp III là phải nói đến môn Toán, vì nó học dốt Toán vô cùng. Những giờ Toán trôi qua trong cuộc đời nó nặng nề và dài dằng dặc như hàng thế kỷ. Nó không muốn chôn vùi mình trong cái sự hãi hùng đó nên thường trốn tiết. Nếu nghỉ học cả buổi thì phải có giấy phép và tất nhiên cũng không thể nghỉ nhiều, nhưng nếu đầu giờ buổi sáng có mặt trong lớp thì coi như ngày hôm đó vẫn học bình thường. Vậy là nó đi học buổi sáng và đến tiết Toán thì trốn. Không hiểu nó làm cách nào mà cả người cả xe đạp đều trót lọt khi đi ngang cái cổng bé xíu có bác bảo vệ đeo kính lúc nào cũng ngồi nhìn chăm chăm vào từng người qua lại? Thoát khỏi cái cổng đó, nó như con chim sổ lồng tung cánh vào bầu trời tự do. Những năm 80, buổi sáng ở Sài Gòn lúc nào cũng mát mẻ như bây giờ vào tiết trời cuối năm. Đường phố vắng hoe đến nỗi nghe rõ cả tiếng lá xào xạc trên những tán cây dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa trải dài đến tận Dinh Độc lập và công viên trước Nhà thờ Đức Bà. Nó vừa đạp xe vừa hát, thường thì cứ tua đi tua lại mỗi một bài, tua đến lần thứ mười mấy thì thấy mình đã đến bên hông nhà thờ và đánh một vòng ôm cua để rẽ vào Bưu điện trung tâm.

 
Bưu điện Trung tâm Thành Phố

Photo by : HMoong

Ngoài đường thì vắng, nhưng bưu điện thì lúc nào cũng tấp nập. Ngay giữa bưu điện, người ta thiết kế một hàng dài mấy chục chỗ ngồi, mỗi chỗ đều được ngăn vách thành từng ô giống như chỗ ngồi của phóng viên trong các toà soạn báo. Nó chọn cho mình ô ở phía góc xa, chỗ vừa ít người qua lại, vừa có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát khắp nơi. Ở quầy bưu phẩm có người đàn bà chừng 50 tuổi đang hỏi han cô nhân viên về thủ tục gửi quà, chắc chắn bà đang cầm trên tay gói nhu yếu phẩm gửi cho con trai là bộ đội đang đóng quân ngoài biên giới. Ở quầy thư nước ngoài có một chị khoác chiếc khăn quàng màu xanh da trời, tay cầm khư khư chiếc phong bì vừa dán, chắc là gửi cho người yêu. Một anh không còn trẻ nhưng cũng chưa già, quần áo xốc xếch, đang vội vàng ghi thông tin gì đó ở quầy chuyển tiền, chắc là gửi tiền lương tháng của mình về cho vợ con ở quê. Một ông già cũng ngồi ở một ô như nó viết thư, làm nó hơi thắc mắc một chút, không hiểu bằng tuổi này, ông còn có nhu cầu viết thư cho ai mà chăm chú, mà nét mặt đầy yêu thương đến vậy…

 

Nó ngồi đó, nhìn tất cả mọi người qua lại và… viết truyện. Cốt truyện và các nhân vật đều đã được nó xây dựng từ trước, nhưng chỉ đến khi ngồi ở một góc bưu điện, diện mạo từng người mới hiện lên rõ đến từng chi tiết và trở nên thực sự sống động.

Cứ như vậy, rất nhiều truyện ngắn của nó đã ra đời ở Bưu điện thành phố.

Năm tháng cứ dần trôi…
Lâu rồi, nó không còn vào Bưu điện thành phố nữa. Không còn anh bạn trai ở lênh đênh trên biển, không còn những anh bộ đội, anh thanh niên xung phong ở biên giới, ở nông trường, không còn những người bạn tóc vàng mắt xanh ở tận đẩu tận đâu phía bên kia địa cầu, và những truyện ngắn của nó đã nằm kỹ đâu đó ở dưới đáy mấy chiếc thùng carton chất đống trong góc nhà.


Thỉnh thoảng đi qua bưu điện, như một thói quen, nó chợt muốn dừng lại để gửi xe. Sau phút ngập ngừng, nó chợt tỉnh, chợt cười ngơ ngẩn một mình rồi nhấn ga cho xe chạy qua, để lại Bưu điện thành phố xa dần phía sau lưng.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Miên man Đà Lạt

Cuối năm lại đến. Như mọi lần, cứ cuối năm, tôi lại loanh quanh với ý nghĩ phải vứt bỏ hết các thứ mệt mỏi ở cơ quan, chạy trốn lên Đà Lạt. Tôi rao trên blog “Có ai muốn đi ĐL với mình không?”. Chỉ ngay ngày hôm sau, có bạn đã gọi điện: “Cuối tháng này tao với mày đi nhé!”.

Cuối tháng, đúng hẹn, hai đứa giao con cái cho chồng, khoác hai cái balô lên đường. Bước lên xe khách, việc đầu tiên là tôi tắt điện thoại và lập tức thấy đầu nhẹ bâng. Mấy cu cậu thanh niên ngồi bên cạnh có vẻ phấn chấn nói líu lo không ngớt. Nhưng tôi chỉ nghe những câu chuyện đó giống như tiếng chim chứ chẳng hiểu một tí nội dung gì trong đó, cả trung tâm thần kinh còn dành chỗ để cho mây trắng tự do lơ lửng bay ra bay vào. Xe lắc la lắc lư, người lơ mơ ngủ gà ngủ gật, đến chiều thì cũng leo được lên cao nguyên. Dã quỳ vàng ngút mắt. Bảo cái màu vàng ấy là vui vì sắc óng rực rỡ cũng được mà bảo là buồn vì cứ mãi vàng chơi vơi ở nơi cao nguyên heo hút này thì cũng không sai. Ừ thôi, chuyện vui buồn không phải là chuyện của hoa, chỉ là chuyện của người. Lúc này, người chợt tỉnh ngủ và một niềm vui lâng lâng không có lời diễn tả cứ mơn man khắp mặt, tay chân và những chỗ không bị trang phục che khuất.

Không thể nhớ chính xác bao nhiêu lần tôi đã chạy trốn thành phố để lên đây, nhưng về những người bạn đã chịu đi cùng tôi, nhẫn nại chiều theo cái ước muốn ẩm ương của mình thì tôi nhớ hết, nhớ từng người với từng kỷ niệm nhỏ nhất mà có thể chính họ cũng không nhớ được. Đi lần sau thì lại nhớ lần trước, đi với người này thì lại nhớ người kia, nỗi nhớ cứ không mời mà đến, không có cách gì ngăn được.

Tối, hai đứa đi chợ đêm, uống ly sữa đậu nành nóng hổi. Bạn hỏi: “Có nhớ ai không?”. Tất nhiên là có chứ. Nhớ một người bạn lúc đó còn độc thân, nay đã yên bề gia thất với hai nàng công chúa. Một buổi tối xa xăm nào đó, hai đứa co ro dưới một cây dù, dẫn nhau ra chợ đêm chỉ để ăn một củ khoai và uống ly sữa đậu nành nóng, rồi lại dẫn nhau về dưới mưa. Bạn ấy hỏi “Sao H. không đi với chồng mà lại rủ mình?”. Không biết câu trả lời của tôi như thế nào, nhưng tôi nhớ cái cảm giác thật chơi vơi khi nghe câu hỏi đó. Rõ ràng là trong suốt cuộc hôn nhân của mình, người ta không thể không có lúc phải trải qua những ngày tháng chông chênh. Tôi đi với bạn ấy trong một khoảng thời gian chông chênh như vậy. Tôi đã nói câu gì đó và bạn an ủi tôi bằng một câu bình thường như người ta vẫn thường động viên nhau: “Chuyện có gì đâu, bao nhiêu người mong lấy được chồng như H. mà không được ấy chứ!”. Chúng tôi đội mưa về, bạn ấy cầm dù, cây dù mỏng không thể ngăn được từng cơn gió thổi những giọt mưa lạnh buốt tạt vào người. Nghĩ đến sự chông chênh của mình, tôi hơi chạnh lòng và thấy cổ họng mình nghèn nghẹn, nhưng tôi biết, nếu lúc này tôi đi bên chồng thì anh sẽ cố tình nhường phần khô ráo cho tôi. Tình yêu là có thật, vậy, cớ gì, cớ gì… cớ gì…?Tối hôm đó, bạn trùm chăn ngủ sớm, còn tôi thì thao thức và tự hứa với lòng, khi trở về Sài Gòn, việc đầu tiên là sẽ ôm chồng và nói rằng “Em nhớ anh”

Sáng sớm, hai đứa thuê chiếc xe máy, tay lăm lăm tấm bản đồ du lịch. Tôi cầm lái và định hướng, bạn ngồi sau chỉ đường cụ thể: đi hết con dốc rẽ phải, gặp ngã ba rẽ trái, leo lên con dốc kia…, chỉ trỏ một hồi, đột nhiên chúng tôi thấy mình lại quay về đúng chỗ cũ. Tôi cười xoà, lẩm nhẩm mấy câu trong một bài hát nổi tiếng: “Phố núi cao phố núi trời gần. Phố xá không xa nên phố tình thân. Đi dăm phút đã về chốn cũ …”. Chuyện đi loanh quanh lại quay về chỗ cũ là chuyện chẳng có gì lạ đối với khách du lịch đến Đà Lạt. Năm ngoái, đi lên đây với chị bạn, hai chị em cũng từng đi loanh quanh như thế này đến hàng chục lần. Tôi vốn là đứa định hướng tốt, nhưng cứ lên đến Đà Lạt là khả năng định hướng của tôi bị phân tán đến không thể hiểu nổi. Nhưng ngồi phía sau, chị cũng chẳng cần biết là tôi chở chị đi đâu. Cứ đi, lên dốc rồi lại xuống dốc, rẽ trái rồi lại rẽ phải, chỉ cần đi, không cần đích đến, miễn là quên hết chuyện công việc bất ổn ở cơ quan, cái chuyện đang từng ngày gặm nhấm, ăn mòn tình yêu của chúng tôi đối với công việc và đối với nơi mình đã gắn bó bao năm. Bảo là quên, nhưng thực ra nó chỉ tạm thời lắng đi, cứ có dịp là lại trào lên từng đợt như người ta bị chứng đầy hơi khó chịu.

Tôi chở chị đi vòng vèo theo một con đường xuống thung lũng. Đường đi chỉ khoảng hơn 1 mét, vừa đủ cho hai xe máy đi ngược chiều tránh nhau, nhưng tuyệt nhiên chẳng có chiếc xe hay một bóng người nào, nhiều đoạn gồ ghề trơn trượt, cỏ dại mọc đầy. Càng xuống sâu, tôi càng cảm thấy nỗi sợ của người ngồi phía sau tăng dần. Đến một lúc, không còn đủ bình tĩnh nữa, chị rụt rè bảo tôi dừng lại. Tôi muốn đi tiếp để thấy được nơi tận cùng con đường, dẫu dưới ấy chỉ là một ngôi làng nhỏ hay là một vườn cây thì cái cảm giác đến được nơi cuối đường cũng làm tôi sung sướng. Nhưng phải chiều theo ý chị, chúng tôi đành dừng lại chụp hình, người nọ chụp cho người kia, ngắm mấy cây hồng quả đỏ trĩu ở xa xa qua ống kính rồi quay xe trở lên. Chị bảo: “Chị không còn ở cái tuổi thích phiêu lưu nữa.” Tôi hiểu và hoàn toàn thông cảm với chị, nhưng vẫn tự nhủ “nếu có dịp, mình sẽ quay lại đi hết con đường”. Vài tháng sau chuyến đi, chị xin về hưu. Ban đầu, người ta không chấp nhận, nhưng chị cương quyết dừng lại giữa đường, nơi chị thấy mình không thể đi tiếp được nữa. Tôi kém chị chục tuổi nên có lẽ cái ngày tôi muốn dừng lại còn xa lắm. Con đường ngoằn ngoèo đầy bất trắc trước mặt sẽ là con đường tôi sẽ phải tiếp tục đi.

Hai ngày có xe máy như được gắn thêm chân, chúng tôi đi không biết mệt, lang thang khắp các ngóc ngách, quán xá. Cô bạn biết tôi đi đến đâu cũng thích ghé thăm viện bảo tàng nên chủ động chỉ về hướng có chữ Bảo tàng Lâm Đồng to tướng khi đi ngang qua toà nhà nằm trên đồi. Ghé vào bảo tàng hơn một tiếng đồng hồ, hoàn toàn thỏa mãn, chúng tôi tiếp tục thăm nhà thờ Domain, trường Đại học, trường Cao đẳng ĐL. Tôi chỉ cho bạn xem chỗ tôi đã khiêu vũ với thầy L mà không làm sánh một giọt nước nào ra khỏi chiếc ly đang đầy tràn, chỗ tôi đã hạnh phúc như thế nào khi được đứng sát bên người yêu – nay là anh xã – nghe hàng thông rót vào tai những lời yêu thương bất tận. Tôi chỉ không kể cho bạn về một nỗi đau xa xưa thoáng hiện về khi đập vào mắt tôi là tòa nhà đẹp như mơ của trường Cao đẳng. Ai cũng có một nỗi đau riêng nào đó mà không dễ gì có thể đem kể với mọi người. Hơn thế nữa, cũng chẳng nên nhắc lại chuyện buồn trong một ngày nắng hanh vàng quyến rũ đến ngẩn ngơ như thế này, nên tôi thả câu chuyện cũ vào đám mây lững lờ trôi về phía cuối chân trời. Đám mây của tôi cứ trôi, cứ trôi và tan ra ở nơi nào đó mà tôi không biết. Thế thôi…

Hai ngày rong ruổi qua mau. Hôm trở về Sài Gòn, chúng tôi phải ra xe sớm. Hai đứa chẳng kịp chạy ra chợ uống ly sữa đậu nành nóng. Thời gian ít ỏi khiến tôi cũng chẳng kịp tìm lại con đường đi xuống thung lũng mà tôi đã chở chị đi năm ngoái. Xe chuyển bánh, bỏ lại hai bên đường bạt ngàn dã quỳ. Bạn trầm ngâm hơn lúc đi, xe chạy thật lâu sau mới nghe bạn bảo: “Lần trước đi Đà Lạt với mày, tính đến nay đã 10 năm. 10 năm như chớp mắt. Không biết tao với mày bao giờ mới quay trở lại đây lần nữa?”. Tôi lơ đãng nhìn rừng thông, bảo: “Thì chắc là chớp mắt một cái nữa thôi mà!”. Nói xong rồi lại thầm nghĩ: 4 lần chớp mắt nữa chắc là cũng đến lúc mình phải ra đi, có ai nhắc mình nhớ mang theo triền dã quỳ vàng rực này đến nơi bên kia của thế giới không?

4 lần chớp mắt – lâu hay mau – chẳng biết!. Những gì đã qua thì cũng đã qua, phía trước thì còn dài. Thôi thì cứ trải nghiệm ngày hôm nay đi.

Xe chạy xuống đèo. Hướng đi tới là Sài Gòn, là nhà, là cuộc sống bộn bề tất bật của tôi. Sau lưng là Đà Lạt với triền dã quỳ ngút mắt, vàng đến nao lòng, miên man, miên man…

Da Lat 11.11

4 lần chớp mắt – lâu hay mau – chẳng biết! Cứ post tấm hình này để giữ lại một khoảnh khắc Đà Lạt, lúc ta không còn trẻ mà cũng chưa kịp già.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Cho người tình lỡ

Chiều xuống, mặt trời đỏ mọng buông nốt vạt nắng cuối ngày xuống lưng đồi làm những bóng cây ven triền dốc như đổ dài thêm. Dòng sông tít xa mãi phía dưới kia lững thững chảy, cuốn theo bóng nước vàng sóng sánh hư ảo. Tôi chợt nghĩ “có lẽ mình đang mơ”. Mọi thứ xung quanh lúc ẩn lúc hiện, lúc vàng rực một màu nắng chiều, lúc lại ngả bàng bạc như trong một bức tranh nào đó của Monet. Tôi đang đi với anh. Chỉ có hai chúng tôi ở trên đồi, bóng hai đứa như ngả nằm xuống mặt đất. Giữa cái mênh mông đến hư ảo và đẹp như không có thật, cả hai cùng ngỡ ngàng đến lặng cả người, không ai dám cất tiếng, sợ âm thanh của mình làm tan mất tất cả.

Nắng tắt dần, mặt trời như lỏng dần rồi từ từ tan chảy, kéo theo những vạt nắng lui ra xa. Bất giác, tôi thấy chân mình đang chạy đuổi theo những vạt nắng, như muốn níu nó nán lại lâu thêm chút nữa. Nhưng không kịp, không kịp rồi…

Và bỗng chốc, tôi thấy mình đang đi lạc vào một nghĩa trang. Không còn nắng, nghĩa trang như không có màu. Lạ thật, trên đời này làm gì có sự vật nào hiện hữu mà không có màu? Nhưng rõ ràng tôi nhìn thấy mọi thứ trong nghĩa trang đang trở nên trong veo: những ngôi mộ lát đá trong đến nỗi như lẫn với cỏ cây, cỏ cây lẫn với đất, đất lẫn với những chiếc ghế đá dọc lối đi, lối đi trên mặt đất lẫn với mây ở cuối chân trời… Những đám mây bồng bềnh, thay đổi hình dạng, lúc thì những cánh hoa tuyết, lúc lại mang hình dáng những ngôi nhà có cửa sổ khuất sau màn mưa…

Tôi gọi tên anh. Nhưng không thấy anh đâu. Dường như anh đã trở nên trong suốt lẫn vào tất cả. Tôi cuống cuồng chạy quanh tìm anh, nhưng chẳng thấy gì ngoài một mình mình giữa nghĩa trang không màu, đẹp như truyện cổ tích và lạnh lẽo đến rợn người. Tôi gào lên khản cả giọng…

“Em! Tỉnh dậy đi!”

Có tiếng người gọi xa lắc như từ phía cuối những đám mây.

Phải mất vài giây nữa tôi mới tỉnh lại. Chồng nằm bên cạnh đang vừa ngái ngủ vừa lay lay vai tôi. “Em vừa nằm mơ”. Tôi thanh minh. Anh “ừ” rồi quay lưng lại, ngủ tiếp không thấy thắc mắc gì. Chắc trong mơ, tôi đã không gọi tên “người kia”. Thật hú hồn!

Những giấc mơ tương tự như thế này đã theo tôi trong suốt mười mấy năm qua, kể từ ngày tôi quyết định chia tay anh. Trong những giấc mơ đó, cảnh vật luôn đẹp đến man dại với đủ các sắc màu, mà bình thường, không bao giờ tôi thấy được. Tôi luôn đi bên anh, cùng anh chứng kiến tất cả, nhưng đến phút cuối cùng, bao giờ anh cũng tan biến, chẳng để cho tôi kịp nói với anh một lời chia tay…

Tôi chẳng kể cho ai nghe về giấc mơ của mình vì có kể thì cũng chẳng ai hình dung được. Thậm chí tôi còn nghe nhiều người nói rằng giấc mơ của họ chỉ có sự kiện chứ không bao giờ có màu. Mà hình như trước khi chia tay anh, tôi cũng chỉ toàn nằm mơ những giấc mơ đen trắng. Mơ đen trắng giản dị hơn mơ màu. Mơ đen trắng nhẹ nhàng hơn mơ màu. Mơ đen trắng không làm ta tái tê mỗi khi tỉnh dậy…

Tôi đến với anh năm tôi vừa vào lớp 11. Thực ra, từ trước đó rất lâu, có lẽ là từ khi 5-6 tuổi, tôi đã mơ về một người như anh, nhưng chỉ đến năm 16 tuổi, tôi mới gặp anh lần đầu. Anh làm tôi mê đắm đến quên ăn, quên ngủ. Tôi lao vào anh như thiêu thân. Tôi sẵn sàng bỏ cả xem phim, bỏ cả đi chơi với bạn bè, cả viết truyện – một công việc mà tôi ưa thích nhất thời đó – chỉ để được im lặng bên anh. Tôi thích được ở bên anh mọi lúc mọi nơi: trong một chuyến đạp xe ra ngoại thành, khi lang thang ở một bến sông, lúc nhẩn nha đi trong rừng cao su đường Sơn Quán – nơi có nghĩa trang thành phố trầm mặc, hoặc ngồi với nhau trong ánh sáng mờ ảo của một căn phòng chật hẹp, ngột ngạt… Chỉ cần có anh bên cạnh là tôi biết mình đang hạnh phúc.

Tôi gắn bó với anh từ lớp 11 năm ấy cho đến khi học trường ĐH thứ nhất, rồi trường ĐH thứ hai, rồi năm đầu đi làm. Tôi biết mình yêu anh nhiều hơn là nhận được tình yêu từ anh. Đáp lại tình yêu của tôi, anh chỉ “vờn vờn”, đôi khi anh xoa đầu tôi như cách người lớn vỗ về trẻ nhỏ. Tôi nhận những cái xoa đầu của anh, biết rằng cuộc tình này không dành cho mình. Chuyện gì đến rồi cũng phải đến.

Tôi có người mới. Người mới không làm tôi mê đắm như đã mê đắm anh, nhưng tôi tìm được sự tin cậy và an bình. Một tình yêu không giông tố như mùa mưa bão, không khúc khuỷu như sông, cũng không rực lửa mùa hè. Đó là một tình yêu mà tôi cần để đi suốt cuộc đời.

Từ đó, tôi từ giã những giấc mơ đen trắng để mơ những giấc mơ màu, Dẫu biết rằng khi tỉnh dậy, những giấc mơ màu luôn làm tôi khắc khoải, nhưng tôi sẽ không đánh đổi bất cứ giấc mơ màu nào của mình để quay lại giấc mơ đen trắng giản đơn ngày xưa. Cuộc đời cho ta những ngã rẽ để ta tự mình chọn lựa, cũng cho ta những giấc mơ màu để nhắc ta đã từng trải qua một thời, một cuộc tình như thế.

…………………….

Hôm rồi, sau chuyến đi với nhóm “Gái mạng”, chị ĐN có rủ rê quay trở lại “Đầm xương khô” (Tên chị ấy đặt cho một cái đầm mà cả nhóm tình cờ gặp trên đường đi). Đầm có vẻ đẹp mê hồn, làm tôi – trong một phút giây nào đó – chợt nghĩ “hay là mình lại mơ?”. Nơi ấy đẹp thế, nhưng rồi tôi từ chối không quay trở lại cùng với chị. Thực ra, tôi có cùng lúc mấy lý do để không đi, nhưng lý do lớn nhất thì chưa thể giải thích cho chị hiểu.

Hôm nay, tôi viết bài này cho anh – người tình lỡ - và cũng là một lời thanh minh gửi đến chị ĐN.
Nhưng tôi cam đoan là đọc đến đây, chị ĐN cũng vẫn chưa hiểu gì, cho đến khi chị ấy bấm vào đây  và đọc lại những gì chị ấy đã đọc vào một lần trước. Đừng đọc tất cả, chỉ đọc đoạn số 3 thôi, để biết “Anh” là ai, nhé!

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Loanh quanh chuyện giáo dục

Chuyện thứ nhất: kỷ luật nhà trường
Cháu gái OM năm nay lên lớp 11. Cháu học trường mà ngày xưa, cách đây 25 năm, OM đã học. Thực ra chỉ có tên trường là còn quen thuộc, chứ mọi thứ liên quan đến ngôi trường đó nay đã trở nên xa lạ mất rồi. Cháu kể chuyện:
- Trường con đóng cửa lúc 6h20 mỗi sáng. Trước đây, nếu lỡ đi học sau khi cổng trường đóng thì sẽ bị ghi tên, ghi tên nhiều lần thì sẽ bị phê bình hoặc hạ hạnh kiểm, nhưng bây giờ khác rồi. Bây giờ nếu lỡ đi trễ dù chỉ 2 phút thì nên biến thật nhanh, về nhà rồi viết giấy xin phép. Lỡ mà thò mặt vào trường thì sẽ bị ghi tên, trừ điểm hạnh kiểm và bị đuổi về, coi như nghỉ học không phép. Nữ sinh vào trường đi giày sandals, hoặc giày hở mũi là bị đuổi! Mặc váy ngang đầu gối cũng đuổi! Gửi xe trong trường lấy ra rất khó khăn và tốn 2000đ, trong khi  gửi ở ngoài vừa dễ dàng, vừa chỉ tốn 1500đ, nhưng nếu bắt được HS nào gửi xe ở ngoài là đuổi. Tóm lại là sẽ có rất nhiều trường hợp bị đuổi.(Hãi quá!)
Nhưng đó không phải là chuyện shock. Cháu kể chuyện shock hơn:
- Có lần con vào lớp lúc trái buổi. Con nhìn thấy có một cặp lớp trên đang làm “chuyện ấy” ở cuối lớp. Con chạy xuống thông báo với thầy chủ nhiệm, thầy đang mải chơi thể thao nên bảo “Kệ nó!”. Thế là thôi. Lần sau con còn bắt gặp thêm 1 lần nữa, nhưng con “kệ nó” luôn!
OM nghe cháu kể mà thấy rụng rời. Để lục xem Yahoo có cái icon nào che tai, không. Nếu không có, chắc phải đề nghị Yahoo bổ sung thêm cái icon này, đặng chuyên dùng khi nghe chuyện kỷ luật của trường THPT.


Chuyện thứ hai: Bài tập về nhà
Chưa đến ngày khai giảng, nhưng hôm nào đi học, bạn Tí Nhân cũng mang về nhà 1 tờ giấy photo khổ A4 chi chít bài tập Toán và Tiếng Việt. Tối tối, bạn Tí Nhân không còn thời gian chạy ra sân chơi nữa, thay vào đó là ăn cơm xong lập tức bị mẹ hò hét ngồi vào bàn học (mẹ đâu có muốn thế, nhưng không ngồi học giờ đó thì sẽ không kịp để đi ngủ lúc 10h30). Trên tờ giấy bài tập, mẹ – với tư cách là biên tập viên – phát hiện ra vô số lỗi về câu chữ. Nhưng thôi, chuyện ấy bỏ qua, chỉ show lên đây một vài bài (còn nhiều, nhưng mẹ không có thời gian show) mà mẹ không hiểu gì cả, hoặc không hiểu vì sao lại sai.


 
Bai tap lop 4_1

 
Bai tap lop 4_2

Mẹ chuyên làm thơ lục bát, vần “ồn” mà mẹ còn gieo được một cách thanh thoát, nhưng đến cái bài tìm vần này thì mẹ bó… toàn thân, chắc trình độ làm thơ lục bát của cô giáo thuộc loại siêu rồi, mẹ không bắt kịp! Chỉ tội nghiệp Tí Nhân, sáng nào ngủ dậy, câu đầu tiên cũng là: “Đi học như đi vào địa ngục, con muốn chuyển trường, mẹ ơi!” Mẹ thầm nghĩ: “Chuyển thì đâm đầu vào đâu hả con?” Mẹ làm sao có đủ khả năng để chuyển con sang “hệ” khác!

Chuyện thứ ba: Làm sách giáo khoa
Việc thay đổi chương trình sách giáo khoa là việc của Bộ GD&ĐT, việc xuất bản SGK là việc của NXBGD, và việc làm SGK là việc của cả một đội ngũ… to đùng những người chữ thì nhiều mà tiền thì ít. Khi có chủ trương thay SGK thì đội ngũ to đùng này phải khởi động trước đó ít nhất 6-7 năm. Họ “ăn SGK, ngủ SGK”, đến những ngày nước rút thì tất cả đều bị cuốn vào cái gọi là “chiến dịch SGK”. Trong mùa chiến dịch, cả đội quân miền Nam, miền Trung đều đổ ra miền Bắc, bỏ cả vợ / chồng con cái, gia đình của mình để ra đóng đô ở Hà Nội 2-3 tháng. Suốt những tháng chiến dịch, đội quân này làm từ 7h30 sáng đến thâu đêm, cao điểm có khi đến 1-2h sáng – với quyết tâm “Không để sách có lỗi”. Và sau đó, kết quả là những cuốn SGK thấm đầy mồ hôi, nước mắt – theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen – ra đời. Sau đó nữa thì sao? Đơn giản thôi, họ được thông báo là SGK năm nào cũng lỗ hàng tỉ đồng, NXB không thể nuôi được họ nên buộc họ phải ra công ty cổ phần để tự bươn chải, sống bằng… gì thì sống, miễn là không phải bằng SGK! Bữa trước có người bạn hỏi OM rằng  lương của đám nhiều chữ này khoảng bao nhiêu, OM thành thật khai lương nhiêu đó, bạn bảo rằng: “thế thì bằng lương tạp vụ bên mình”.
Nếu bỏ ra từng ấy công sức, từng ấy mồ hôi và chất xám để năm nào cũng lỗ, và lương trí thức ở nơi này chỉ bằng lương tạp vụ ở nơi khác thì cái giá để trả cho sự nghiệp trồng người quả là…
Nhưng cái vụ này OM chỉ viết lên đây, không có nói với ai đâu à nha! Đừng vì lỡ đọc bài này mà đổ tội cho OM đem chuyện nội bộ đi nói linh tinh.  Icon che miệng đâu, mang ra đây ngay!


Chuyện thứ tư: Quậy bùn khua sóng
Đọc bài viết này trên báo Thanh niên, OM thấy khó chịu quá. Bạn nào quan tâm đến sách giáo khoa thì chịu khó vào đây mà đọc, đọc xong thì đừng tin nhé. Bài viết đề cập đến 2 vấn đề, thứ nhất là trong SGK Tiếng Việt lớp 1, kênh hình không chuyển tải được nội dung kênh chữ, thứ hai là chuyện tuỳ tiện khi viết hoa hoặc không viết hoa tên của các con vật.
Tác giả bài viết là một vị tiến sĩ (eo ôi, nể quá!). Ông bảo: Xếp hàng vào lớp mà vẽ học sinh bá va bá cổ, cười đùa (chạnh lòng nghĩ ngay đến trẻ con, phen này xếp hàng vào lớp, mặt mũi phải nghiêm trọng, hàng phải thẳng tắp như đi vào… tù thì mới rõ vấn đề) ; Bài học thì ao, hồ, giếng, thế mà vẽ có cái giếng với cái ao, không vẽ hồ ; Bài học thì Nghe lời cha mẹ, thế mà chỉ vẽ mỗi mẹ (chết thật, quên không vẽ cha, phen này cả một thế hệ học sinh sẽ chỉ nghe lời mẹ thôi, không nghe lời cha). OM là hoạ sĩ trình bày nên đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Đọc bài xong rồi trộm nghĩ: May quá, các ông trên Bộ không đưa mấy bài đồng dao hay thơ Trần Đăng Khoa vào sách. Mấy bài này vốn rất nhiều hình ảnh, chẳng hạn:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba Vương mũ đế
Bắt dế đi tìm
Con chim làm tổ
Miếng mỡ mèo tha
Bà già chết cóng
(Đồng dao)
Hay là:
Một vùng trời đất hôm nay
Trời đầy én bạc, đất đầy ô tô
Biển đầy tiếng hát câu hò
Việt Nam gương mặt Bác Hồ sáng tươi
(Trần Đăng Khoa)
Thì lấy giấy đâu ra mà vẽ nhỉ? Nếu cố lắm, lấy 1 trang giấy ra để vẽ cho đủ từng ấy nhân vật thì thế nào cũng bị dư luận chửi bới là lãng phí giấy, tiền lại đổ lên đầu phụ huynh
Ý thứ hai, tác giả cho rằng SGK đã tuỳ tiện, cùng là tên con vật, nhưng chỗ viết hoa, chỗ lại viết thường. Ui, tức quá, tức quá! Không biết hồi tiểu học, ông tiến sĩ này có được học bài nhân cách hoá không mà không phân biệt được ngữ cảnh của từng bài nhỉ?
OM hơi buồn vì báo Thanh Niên chắc cũng nghĩ tiến sĩ viết ra là phải đúng, nên đã duyệt đăng bài này. Nhưng thôi, xét cho cùng thì có được bài thế này, chắc là toà soạn cũng mừng rồi, vì không cho đăng những bài kiểu như thế thì loanh quanh chắc cũng chỉ mấy bài đâm chém nhau ở bệnh viện, giá vàng tăng giảm, học sinh tấn công bạn hay là xác định nghi can cướp tiệm vàng…, đại loại thế thôi! Bạn nào cho OM mượn cái icon che mắt để gắn vào đây nhé!


Vậy là đủ bộ 3 Icon dành cho giáo dục rồi. Mượn tạm hình này bên nhà Mintar trong khi chờ đợi Yahoo nâng cấp:

 
Ba Khong

 

Bây giờ OM viết bài về giáo dục đưa lên bờ lốc, lát nữa, chiều về phải nghĩ cách làm sao mà gặp được cô giáo chủ nhiệm lớp của bạn Tí Nhân, đặng mà thọ giáo cô về cách làm bài tập sao cho đúng. Mẹ ngại quá Tí Nhân ơi.  Mẹ còn ngại thế, thảo nào mà con cứ suốt ngày đòi chuyển trường. Chao ôi là khổ!

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Tàu đêm đi qua thành phố

Tau dem

Ai đã từng ngồi bên ô cửa sổ của một chuyến tàu đêm đi qua thành phố có thể sẽ hiểu cảm giác này. Nếu như những người đang đi trên đường buộc phải dừng lại trước thanh barie chắn tàu, mắt nhìn chăm chăm vào những toa tàu sầm sập kéo qua trước mặt với cảm giác sốt ruột, thì ta – kẻ ngồi bên ô cửa sổ toa tàu – lại nhìn họ với cái nhìn lướt qua, không hẳn hờ hững, không hẳn quan tâm. Có gì đâu, trong giây lát, ta sẽ bỏ lại phía sau tất cả những gương mặt xa lạ: một anh phát thanh viên trên đài truyền hình vừa tan ca, một chị công nhân đang đến nhà máy thay ca trực cho đồng nghiệp của mình, một cô gái làm ở quán bar vừa dọn dẹp xong đống ly tách bia bọt, đang trên đường trở về căn gác trọ, một gã say rượu đang ngất ngưởng tìm đường về nhà…Có gì đâu, ta chỉ lướt qua họ trong tích tắc và có thể sẽ chẳng bao giờ gặp lại họ trong đời.

Nhưng đấy là bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đêm bình thường. Còn nếu bạn ngồi bên cửa sổ một toa tàu đang mang bạn đi khỏi nơi mà bạn đã từng sinh ra, lớn lên và trải qua những tháng ngày tươi đẹp nhất thì cảm giác của bạn sẽ không dễ gì tả lại được bằng lời.

Một lần, tôi có việc nên phải về nhà lúc khá khuya - chẳng may phải đi qua con đường quen thuộc có tuyến xe lửa chạy qua - vừa đúng lúc barie hạ xuống trước mặt. Không hiểu sao, đoàn tàu chạy qua hôm đó đi rất chậm, và ở một ô cửa sổ sẫm tối nhưng có ánh đèn đường hắt vào, tôi chợt bắt gặp gương mặt đầm đìa nước mắt của một một bé gái chừng 10 tuổi. Gương mặt chầm chậm lướt qua tôi và bỗng chốc tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Trời ơi, tôi nhớ, nhớ quá đi mất những căn nhà mái ngói màu nâu xám dưới ánh đèn vàng, bóng những cây sấu già in xuống mặt đường, những người đàn ông đeo trên ghi-đông xe đạp một chiếc cà-men sắt, những người đàn bà mặc quần lụa đen và áo phin nhấp nhổm trên chiếc xe đạp Phượng hoàng đang đứng chờ tàu đi qua… Đó là một đêm mùa hè và cũng là hình ảnh cuối cùng dưới con mắt trẻ thơ của tôi về một Hà Nội thân thương, hiền hoà và đầy ắp kỷ niệm.

Bao nhiêu năm qua, tôi vẫn giữ hình ảnh đó trong lòng, dù Hà Nội bây giờ với tôi hoàn toàn xa lạ. Tôi không còn di chuyển bằng tàu hoả và cũng không có ý định thử đi tàu hoả lại một lần, nhưng mỗi lần dừng lại trước thanh barie chờ cho đoàn tàu sầm sập chạy qua, tôi vẫn cứ cảm giác mình như đang ngồi bên một ô cửa sổ và nhìn xuống con đường với một thứ tình cảm không có lời diễn tả.

Đêm đêm, những con tàu vẫn lặng lẽ chạy ngang thành phố. Nếu một trăm lần bạn đã lơ đãng và sốt ruột nhìn nó nặng nề lăn bánh qua trước mặt thì hãy thử một lần nào đó nhìn sâu vào những ô cửa sổ sẫm tối xem có nỗi buồn nào đang lướt ngang qua không. Nếu thấy được điều gì đó, bạn sẽ hiểu rằng tận sâu trong trái tim, ta đã không hờ hững với những khoảnh khắc vụt qua trong cuộc đời này.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Có một ngày...

Có một ngày, như mọi ngày, mình dậy sớm chuẩn bị đi làm. Nhưng hơi khác mọi ngày một chút, con trai cũng dậy theo mà không cần gọi. Con nhìn mình ngập ngừng một chút rồi bảo: “Con về quê với ba mấy ngày, mẹ ở nhà đừng buồn nha! Đi làm nhớ đội mũ bảo hiểm!” (Chả là mình rất hay quên mũ). Định hôn con trai một cái nhưng rồi lại thôi. Dạo này thấy cu cậu có vẻ lớn, cương quyết từ chối không cho ba hôn và tỏ ra ngượng ngập mỗi lần mẹ hôn lên trán.

Có một ngày, mình lên xe phóng đi làm với cảm giác sung sướng. Hôm nay, một ngày tự do, không có ai chờ mình vào buổi chiều, sẽ về muộn, sẽ cà phê với bạn bè đến tối, sẽ ôm máy tính viết blog đến khuya mà không phải nghe tiếng TV bên cạnh, không có ai đi tới đi lui, thỉnh thoảng lại nhòm vào màn hình. Tự do thật là tuyệt!

Có một ngày, như mọi ngày, mình đến cơ quan sớm nhất, mở máy lạnh, máy tính, pha trà… Nhưng hoá ra lại là một ngày không suôn sẻ như mọi ngày. Bắt đầu giờ làm việc, mình đã bị yêu cầu phải sửa chữa mấy cái bìa mà mình nghĩ là đã rất hoàn hảo. Tiếp đến là 3 bản thảo trong một serie mà mình đã bỏ nhiều công sức biên tập đến “tan nát”, nay lại bị trả về lần thứ 2 với lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng mà “đau”, rằng: Anh nghĩ em nên bỏ thời gian ra đọc thật kỹ lại, bản thảo còn quá nhiều lỗi!. Lần đầu tiên trong suốt mười mấy năm làm việc, mình bị rơi vào tình huống đáng buồn và đáng chán nản như vậy. Cầm bản thảo trong tay, chỉ muốn vứt đi hết và khóc to lên cho hả dạ.
Co 1 ngay

Minh họa của Trịnh Lý (một người bạn mình chưa gặp bao giờ)

Có một ngày, mình không thể bắt mình tập trung đọc bản thảo được nữa nên quyết định chat với bạn bè. Suốt cả năm nay, mình toàn giấu mặt trên công cụ chat, chỉ ló mặt ra khi thực sự cần thiết trao đổi với ai đó, nên hôm này vừa đặt chế độ Available là lập tức có năm bảy bạn nhảy vào hỏi thăm ngay. Chat không kịp, mà vừa chat vừa nghĩ đâu đâu, đành phải trở lại chế độ Offline như mọi khi. Tưởng là làm một thay đổi nhỏ cho qua cơn chán, nhưng hoá ra vẫn là “một ngày như mọi ngày”. Lại lấy bản thảo ra ngồi đọc mà chẳng hiểu gì cả.

Có một ngày tâm trạng uể oải và trong đầu cứ văng vẳng ý nghĩ “sao mình khổ thế này”, thì bỗng nhiên lại có dịp trò chuyện với 3 người bạn trên blog mà mình chưa lần nào gặp mặt. Bạn thứ nhất là một bạn trai (đã kịp search trên Google thấy bạn ấy là một nhân vật khá nổi tiếng và thành công trong sự nghiệp). Bạn này chat rất nhanh. Khi chỉ trò chuyện với một ai đó qua công cụ chat thì tốc độ chat nhanh hay chat chậm có thể nói với mình một số điều. Thứ nhất, bạn ấy còn trẻ (mắt tinh, tay khoẻ) ; Thứ hai, bạn ấy có phản xạ nhạy bén ; Thứ ba, bạn ấy có một chỗ ngồi riêng biệt, không bị ai đi qua đi lại hay nhòm ngó (thường thường chỉ có sếp mới có chỗ ngồi như vậy) ; Thứ tư, bạn ấy thường xuyên chat với vô số người khác (đừng tưởng bở là chỉ chat với mình). Những câu chuyện phiếm qua chat, đối với người này thì chỉ là trò vô bổ mất thời gian, nhưng đối với người khác thì có thể không hẳn như vậy. Chat với bạn này mình thấy vui, ít ra là tạm thời quên đi cái u ám theo suốt buổi sáng.

Người thứ hai là một bạn gái đáng tuổi em mình. Em còn rất trẻ nhưng đã có một sự nghiệp mà chắc hẳn nhiều người nhìn vào phải mơ ước. Tuy nhiên, cuộc sống dường như hiếm khi cho ai được trọn vẹn mọi thứ. Qua blog, mình biết em là người sống nhiều bằng tình cảm và mang một trái tim mong manh dễ vỡ. Trò chuyện với em xong, bỗng cảm thấy có gì đó chơi vơi, thấy em giống như một ngôi sao sáng trong đêm nhưng lại cô đơn giữa cuộc đời này. Mình đâu thể giúp gì được, có chăng chỉ là một chút chia sẻ, một chút cảm thông. Chẳng biết điều đó có làm em vui hơn không?

Người thứ ba cũng là một bạn gái kém mình vài tuổi. Bạn này đã rời VN lâu lắm rồi và đang yên ổn với một hạnh phúc bình dị mà bạn ấy đã phải chắt chiu mới có được. Bạn kể cho mình nghe về quãng đời đầy khó khăn, gian nan mà bạn đã phải vượt qua, phải cố đứng dậy, bước tiếp và bước tiếp để có được ngày hôm nay. Mình rất thích vào blog của bạn này. Theo như bạn nói thì bạn mới chỉ học phổ thông, nhưng mình thấy bạn có nhiều tố chất của nhà văn. Biết đâu chừng, một ngày nào đó khi không còn phải lo chuyện cơm áo, bạn sẽ trở thành nhà văn thật thì sao! Cứ chờ xem nhé!

Có một ngày, mình được tự do nhưng không còn hứng thú để đi chơi. Mình rời cơ quan đúng 4h30 và về nhà đúng 5h kém 10. Trời đổ cơn mưa lớn, không đạp xe tập thể dục như mọi ngày, mình vào phòng đóng cửa lại và gào lên hát một mình. Nhưng tiếng hát không át nổi tiếng mưa dội ầm ầm trên mái tôn, chợt thấy mình đang chống chếnh, chợt thấy thèm được yêu như hơn 20 năm trước, chợt thấy cơn mưa hôm nay làm cho lòng mình bị dột mất rồi!

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

Sách cũ

 Thật là sung sướng mỗi khi cầm trên tay một quyển sách mới tinh, còn thơm mùi mực in. Sung sướng hơn là khi vừa cầm trên tay, vừa ngắm nhìn kết quả lao động của mình, gật gù: “Có thế chứ! Ít ra đổ mồ hôi suy suy nghĩ nghĩ, làm đi làm lại, tranh luận sùi bọt mép, cuối cùng cũng ra được cái hình hài yêu quý này”. Nhưng không phải lúc nào cũng được như vậy. Cứ 10 quyển sách ra đời thì có đến 7 quyển không theo ý mình vì phải chiều theo “bố mẹ đẻ” của chúng, tức là tác giả và BTV. Mình chỉ là mẹ đỡ đầu thôi.

Chuyện lan man quá, vào chuyện chính nè!

Nói đến sách mới để nói sang chuyện sách cũ. Cái gì chả thế, đầu tiên là mới, sau đó thì đương nhiên là phải cũ.

Mình hay dành thời gian loanh quanh ở mấy tiệm sách cũ. Buổi trưa là thời gian lý tưởng nhất để chúi mũi vào hàng đống sách cũ chất như núi trong những cửa hàng chật hẹp dọc đường THL. Ông chủ cửa hàng lúc ấy thiu thiu ngủ gà ngủ gật, bà chủ thì mở TV xem phim Hồng Kông, chả ai buồn để ý, chả ai buồn hỏi han xem mình muốn tìm sách gì. Điều kiện thật tuyệt vời! Đầu tiên là mình sà vào chồng sách nước ngoài xem họ vẽ vời, trình bày ra sao. May mắn thì vớ được vài quyển mà ở cửa hàng sách mới chả thể nào kiếm được. Sau đó, mình xê dịch sang dãy sách văn học, bắt đầu lướt qua các gáy sách để xem tựa. Công đoạn này thật vất vả vì sách VN không tuân theo một quy ước nào cho gáy sách: quyển thì chữ chạy từ dưới lên, quyển thì chữ chạy từ trên xuống, mấy quyển dày dày thì chữ nằm ngang. Khi đọc, đầu hết nghiêng qua trái rồi lại nghiêng qua phải. Nếu ai nhìn thấy bộ dạng “lắc lư cái đầu, lắc lư cái mình” của OM những lúc đó chắc buồn cười lắm! Hết sách văn học thì sang đến dãy thơ, hết thơ thì sang khu vực sách y tế và sức khoẻ… Khoảng 1 tiếng đồng hồ thì liếc xong cửa hàng sách cũ và ra về với mớ chiến lợi phẩm không “đụng hàng”.

Về nhà, mình mở từng quyển ra săm soi. Sách nước ngoài thì xếp lên kệ, chỗ nào dễ lấy nhất để lâu lâu đem ra coi… hình. Thơ thì để đầu giường để tiện lúc nào đọc lúc đó. Sách sức khoẻ thì đọc ngay, rồi cất ngay. Còn lại, sách văn học, nhất là tiểu thuyết thì trân trọng cất vào tủ và thường thì… chả có lúc nào đọc! Mua sách văn học vì quyển sách đó hồi xưa mình đã từng mơ ước mà không mua được; hay vì quyển đó hồi xưa mình thích lắm, nhưng giấy đen kịt, xấu xí, sau này in lại đẹp hơn; hoặc vì nhớ cái quyển sách đó hồi xưa mình đã cho nhỏ X, nhỏ Y mượn, rồi bị nó “xù”, không trả; và có khi chỉ vì… thích mua. Thế thôi!

Lâu lâu ngồi soạn lại đống sách cũ, thấy có những cuốn giấy đen như ruột bánh mì đen hoặc vàng như đường thốt nốt, hay đã cũ, rách tơi tả, chặc lưỡi “thôi, vứt đi!”. Vứt xong thấy thương quá, lại nhặt vào. Mỗi cuốn sách đều lưu giữ trong đó một kỷ niệm của mình. Cuốn này ông bà mua tặng khi mình là học sinh giỏi, cuốn kia là của đứa bạn thân lặn lội săn lùng tận đâu đâu mang về cho mình, cuốn kia nữa bạn trai đã mua bằng số tiền mà đáng ra bạn ấy có thể đổi được mấy cái phiếu ăn sinh viên, cuốn khác mình mua lúc lang thang một mình trong một buổi chiều ướt nước mưa khi vừa chia tay với anh. Cũng có khi cuốn sách lưu giữ những kỷ niệm không phải của mình. Mua nó ở hiệu sách cũ, mở ra thấy ở trang bìa lót đã có sẵn những dòng chữ của ai đó ghi tặng cho một ai đó khác. Chợt thoáng buồn. Sao người ta lại nỡ…
Loi de tang sach 2

Trưa nay, lúc đồng nghiệp tranh thủ sáu mươi phút quý báu để nghỉ trưa, mình không ngủ, loay hoay chụp lại một số lời đề tặng ghi ở trang bìa lót. Xong, mình vào Photoshop, lẩn mẩn lôi hết những dòng chữ đó vào một untitled, layer nọ chồng lên layer kia. Mình xoá bớt layer trên thì layer dưới lộ ra. Kỷ niệm chồng lên kỷ niệm, những mảnh ký ức nhoè vào nhau. Thương quá, sách cũ ơi!
Loi de tang sach 1

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Lần đầu

Trong đời, có những lần đầu mà tôi biết mình sẽ lưu giữ mãi mãi trong ký ức: như lần đầu đến trường, lần đầu rời bỏ nơi mình sinh ra để đến miền đất khác, lần đầu biết yêu, lần đầu đi làm, lần đầu tự ràng buộc mình vào cuộc sống vợ chồng… Có lẽ không thể kể hết những lần đầu, nhưng kể ra một vài lần đầu thì có thể lắm chứ!

Này nhé:

- 5 tuổi, lần đầu tôi phải đi học ở lớp mẫu giáo sau 2 năm trời trì hoãn hết lần này đến lần khác. Tôi không muốn mẹ đưa vào lớp vì rất sợ giây phút chia tay. Mẹ chỉ chở đến đầu ngõ và tôi tự đi vào. Tôi đi nép vào tường, lưng thẳng, đầu ngẩng cao tiến về phía trước và cố nuốt những giọt nước mắt tủi thân chỉ chực chờ dịp trào ra. Cô giáo ngồi ở bàn giữa lớp mỉm cười ra hiệu cho tôi bước vào, còn lũ bạn thì tròn xoe mắt tò mò nhìn nhân vật mới tới. Giờ ra chơi, đám con trai chơi các loại trò vận động, chạy nhảy, còn đám con gái xúm lại chơi đồ hàng. Tôi vốn nhút nhát, chả dám làm quen với ai mà cũng không thích chơi đồ hàng, nên lủi thủi loanh quanh một mình, cổ họng như có ai bóp nghèn nghẹn. Cô giáo lúc đó tuổi chừng ngoài hai mươi, giờ ra chơi tranh thủ đem truyện cổ tích ra đọc. Còn nhớ cuốn truyện đó có tựa đề là Bức gấm thêu, tôi lén đứng sau lưng cô, cô đọc trang nào là tôi đọc được hết trang đó. Gần hết giờ ra chơi cô mới phát hiện ra tôi đứng sau lưng và hết sức ngạc nhiên khi thấy tôi biết đọc chữ, mà lại đọc với tốc độ rất nhanh. Vào giờ học, cô gọi tôi ra đứng giữa vòng tròn ở lớp học và giới thiệu: “Các cháu, đây là bạn TH. Bạn TH đã biết đọc truyện rồi đấy, các cháu có thấy giỏi không?”. Đám bạn ồ lên: “Thưa cô, giỏi ạ!”. Ngày đầu đi học, tôi không phải làm quen với ai mà tự nhiên được tất cả các bạn trong lớp ngưỡng mộ. Sướng thế!

- 2 năm sau, tôi vào lớp Một. Ngày đầu tiên, tôi mặc một chiếc áo mới do mẹ tự tay may cho tôi. Không hiểu lúc đó mẹ quên không mua khuy áo hay vì một lý do nào đó, mà áo của tôi có 5 chiếc khuy hoàn toàn khác nhau. Đến lớp, có một đứa bạn gái phát hiện ra. Lập tức cô nàng gọi những đứa con gái khác đến vây quanh tôi chỉ trỏ và lăn ra cười. Tôi xấu hổ đến muốn chui xuống đất, nhưng cố làm mặt tỉnh, bảo: “Mẹ tớ nói áo chỉ có một loại khuy thì quá bình thường, người nổi tiếng phải mặc áo nhiều loại khuy”. Nói “cứng” như vậy, nhưng từ đó trở đi, tôi không bao giờ mặc chiếc áo đó nữa và cũng không bao giờ kể cho mẹ nghe lý do tại sao. Nghĩ lại thấy thương mẹ, thương mình và thương cả chiếc áo chỉ được mặc có một lần. Tuy nhiên, có điều thú vị là sau đó tôi thấy vài đứa bạn gái cũng bắt chước đòi mẹ đơm nhiều loại khuy vào áo. Chắc chúng thích giống người nổi tiếng chăng?

- Ngày đầu tiên rời xa gia đình để vào trường đại học cách nhà hơn 20 cây số, tôi lại bắt gặp mình có cái cảm giác nghèn nghẹn ở cổ y như mười mấy năm trước. Ba chở tôi bằng xe máy đến trường rồi quay về, để lại tôi một mình lóng ngóng như một con bé ngốc với chiếc vali quần áo và một mớ lỉnh kỉnh sách vở, chiếu cói, xô nhôm… Đứng trước ngôi trường và nhìn ký túc xá nằm trên một vùng đồi mêng mông toàn cây tràm và đất nhuốm một màu đỏ quạch, tôi thấy mình thật lạc lõng và bé nhỏ. Thế rồi, tôi thấy mấy đứa con gái cùng lớp khóc toáng lên khi chia tay với cha mẹ và bất chợt tự hào đôi chút vì xem ra mình cũng “dũng cảm” hơn chúng. Đó là một lần đầu không có nước mắt, mở màn cho quãng đời đẹp nhất mà tôi có được.

- 26 tuổi, tôi làm phóng viên ảnh ở một tờ báo - lúc bấy giờ là một tờ báo khá lớn. Tuy nhiên, một thời gian sau, trong nội bộ toà soạn có nhiều sóng gió, đấu đá lẫn nhau, các phóng viên giỏi lần lượt bỏ toà soạn ra đi. Lần ấy, phóng viên thể thao sáng giá ĐH cũng quyết định bỏ việc. Trước khi bỏ đi, anh gặp tôi với tư cách như một người anh khuyên nhủ đàn em, nhưng trong những lời khuyên nhủ của anh, tôi thấy rõ sự kẻ cả và hả hê, kiểu như: “anh đi, cô ở lại ráng mà làm mấy việc của anh đi nhé! Mấy thằng PV thể thao kia chỉ biết viết bài thôi, không chụp ảnh được như anh đâu, nên cô phải lãnh luôn việc chụp ảnh”. Nghe anh rỉ rả nói chuyện, tôi biết anh không tin tôi có thể làm được việc đó. Và cái lần đầu tiên kinh khủng ấy đến khi tôi phải vác máy ảnh ra sân vận động. Gọi là “vác” không hề quá chút nào vì lúc ấy tôi chỉ cân nặng 40 kí mà phải khuân 2 cái máy ảnh cơ nặng trịch cùng chân máy và ống télé 300 to gần bằng một khúc thân cây chuối. Chiều tối, trời mưa tầm tã, tôi trùm áo mưa đứng dưới sân vận động cùng với hàng chục PV nam to khoẻ, lực lưỡng. Vài người trong số họ liếc nhìn tôi với con mắt thương cảm, số khác thì không thèm giấu sự ngạc nhiên pha lẫn đôi chút coi thường. Mưa quất vào mặt, vào mắt tôi cay xè. Cũng may, nhờ mưa nên không ai trông thấy tôi khóc. Tôi vừa khóc rấm rứt vừa lia máy ảnh theo các đường bóng, mắm môi chụp được mười mấy kiểu. Thế mà một điều kỳ diệu đã xảy ra khi cả mười mấy tấm ảnh tôi chụp đều đạt yêu cầu một cách mỹ mãn. Không biết sau đó anh ĐH có xem ảnh của tôi không, nhưng tôi hiểu mình đã vượt qua được lần đầu để đủ tự tin cho những lần tiếp theo.

- Hôm nay, lại thêm một lần đầu. Lần đầu quay lại nơi xuất phát sau một thời gian thất bại khi cố tìm cho mình một lối thoát khỏi đời công chức. Tôi đã đủ thời gian để chiêm nghiệm và nói điều này: dẫu bạn có được học hành đàng hoàng, dẫu suốt 5 năm ĐH, bạn luôn đứng đầu lớp, dẫu ở nơi làm việc, bạn được hầu hết đồng nghiệp đánh giá cao thì cũng không có nghĩa là đời công chức phải mỉm cười với bạn.

Một ngày ta trở lại, lại gặp những gương mặt cũ, chỗ ngồi cũ, công việc cũ…, chỉ có tên công ty là mới. Một ngày không nghẹn ngào, không có những giọt nước mắt, chỉ thấy ta không còn trẻ nữa để rưng rưng đón nhận lần đầu. Không biết nhiều năm nữa, tôi có nhớ lần đầu này như như nhớ những chuyện tôi vừa kể không. Nhưng, kể về những chuyện đã qua để tự thấy mình đã từng vượt qua những lần đầu khó khăn. Hôm nay, dẫu đời công chức không dành cho tôi một nụ cười thì tôi cũng chẳng đến nỗi keo kiệt để nhăn nhó lại với nó. Cứ cười bất cứ khi nào có thể, biết đâu một ngày nào đó nó sẽ mỉm cười lại với mình! Biết đâu sẽ có một lần đầu hạnh phúc đang chờ mình ở phía trước. Biết đâu…
(Bài này đáng lẽ phải đưa lên từ 1.3, nhưng mạng ở công ty bị dở chứng nên loay hoay hôm nay mới post)

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Lan man chuyện… chim

Picasso có bức tranh vẽ 2 con chim mà mình rất thích

v41ftBHSaEGAqPDwTExmAA

Xem tranh, có thể thấy cả cái run rẩy trong niềm hoan lạc của đôi chim.

Có lẽ sau đó, kết quả của niềm hoan lạc là cái này đây:

8d1nywgQ4xWE6iU_C23qLQ
Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng  thực sự mấy cái trứng chim còn nằm trong ổ đó được mình lấy ra từ… kệ sách ở nhà mình đó! Người ta bảo “đất lành chim đậu”, chẳng biết có đúng không, nhưng rõ ràng bọn chim sẻ chỉ rình rình lúc gia chủ sơ ý là tha rơm rác về làm tổ ngay sau những chồng sách trên kệ sách lớn. Kệ sách được đóng dọc theo hành lang giữa 2 phòng ngủ trên lầu nhà mình. Nơi ấy thật thoáng nên có lẽ làm cho bọn sẻ sinh hứng chăng? Không biết bao nhiêu lần, mình đã đuổi chúng đi, nhưng chứng nào tật nấy, cứ vài ba tuần không theo dõi là lại phát hiện có cái tổ chim ở đâu đó sau mấy cuốn sách văn học hoặc sách nhiếp ảnh cũ. Nếu chưa thấy có gì trong đó thì mình lại tiếp tục “sự nghiệp” đuổi chúng đi, nhưng thường thì chúng đã kịp để lại chứng tích hoan lạc rồi, nên đành chép miệng… cất về chỗ cũ vậy. Cứ thế, những cái trứng nở thành chim sẻ non:

F3Bkc8ActX8x4xMiLJXmCA

Chim sẻ non dần dần lớn lên. Mình vuốt ve vài cái trước khi chúng đủ lông đủ cánh và bay đi.

rW51Scz0uM6OfN_RH56IxA

Chuyện chim ở nhà mình chỉ có thế. Bây giờ là chuyện cổ tích chim:

Ngày nảy ngày nay, ở một cái lồng chim lớn kia, có một con chim… chẳng rõ là loại chim gì. Nó ở trong chuồng với các con chim khác và có nhiệm vụ hót cho vui cửa vui nhà. Ông chủ thỉnh thoảng bảo với nó: “Chúng mày đang làm một việc có ích là góp phần làm đẹp cho cuộc đời này đấy!”. Biết là mình chỉ làm cho vui cửa vui nhà ông chủ thôi, nhưng nghe thấy ông nói thế, nó cũng thấy thích thích và nó cảm giác tự hào đôi chút. Tuy nhiên, trong thâm tâm, nó biết rằng cuộc sống trong lồng thật chật hẹp, và nó luôn ao ước được ra khỏi lồng, bay cao, bay xa ra khoảng trời cao rộng ngoài kia để nhìn thế giới rõ hơn.

Một ngày, thấy cửa lồng mở, chim phân vân một lúc rồi quyết định chui ra khỏi lồng. Nó bay lên một ngọn cây, hít đầy không khí trong lành vào lồng ngực và vỗ cánh bay đi xa.

Ồ, rõ ràng cuộc sống bên ngoài thật tuyệt! Nó có thể làm nhiều việc: khi thì giúp cô Tấm nhặt thóc, khi thì phụ với Cô bé Lọ Lem dọn dẹp nhà cửa, lúc khác lại đi giao lẵng hoa tình yêu theo yêu cầu của cô công chúa trong phim Enchanted… Nói chung, thời gian đầu sống trong cuộc đời tự do không còn gì có thể kêu ca được nữa.

Tuy nhiên, nó lại mất đi thứ khác. Đến bữa, chẳng ai cho nó ăn. Đôi khi nó cao hứng cất giọng hót thì tiếng hót của nó tan vào không khí, chẳng biết có ai nghe không. Tối đến, không được nằm yên ổn trong cái lồng an toàn, nó phải tự đi tìm một nơi nào đó để qua đêm, vừa ngủ vừa lo ngay ngáy. Và nó còn phải tự đóng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội nữa. Ngán quá!

Cuối cùng thì chim quyết định quay về nhà cũ. Nó chui lại vào cái lồng chật hẹp. Ông chủ đóng cửa lồng và bảo: “Lần sau đừng có bay lung tung nữa nhé, có ngày mèo xơi mày mất!”. Nó vâng dạ. Hằng ngày nó lại đem hơi sức của mình ra, cất giọng hót cho vui cửa vui nhà ông chủ và nhìn xa xăm ra ngoài khoảng trời xanh đầy nắng…