.comment-block img { max-width: 300px !important; }

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

“Ai cho ta lương thiện?”


Mấy ngày hôm nay, trời ui ui, nắng một tí rồi lại mưa sụt sùi. Nở thấy buồn nẫu người. Nếu bảo là buồn vì trời mưa thì nghe có vẻ “sến” quá. Từ hồi chưa kết tóc se duyên với Chí, Nở đã chúa dị ứng với mấy mẩu Tìm bạn bốn phương trên báo, đại loại như: “Nữ ngoài 30 tuổi, hiền, lãng mạn, thích lang thang một mình dưới mưa…”. Chỉ đọc đến đó là người Nở đã nổi hết da gà. Thế nên nếu bảo Nở buồn vì mưa thì thật là bôi bác Thị quá. Cuối cùng, Nở đã tìm ra lý do khiến mình buồn. Chắc hẳn đó là do Nở đang ở thời kỳ tiền mãn… khóa!

Sáng nay, như thường lệ, Nở chở Chí con đi học. Đúng 7 giờ kém 15, hai mẹ con Nở xách nhau ra khỏi nhà. Luồn lách đi qua cái chợ chồm hổm mất đúng 5 phút. 5 phút nữa để chạy đến chân cầu chữ Y. Từ xa, Nở đã thấy một biển người nhích từng tí một trên cầu. Không ổn rồi! Nở quyết định quay ngoắt xe, vòng lại lên cầu Nguyễn Văn Cừ. Tất nhiên không chỉ có mỗi Nở biết khôn. Hầu hết những người đi đường khi nhìn thấy cảnh tượng ngán ngẩm đang diễn ra trên cầu chữ Y đều làm như Nở. Tuy nhiên, Nở muốn mình phải khôn hơn họ. Thị nhanh chân phóng trước, chen vào những chỗ còn trống, thậm chí leo cả lên lề đường. Trước đây, Thị vốn ghét những kẻ thiếu văn hóa, cứ hơi một tí là phóng lên lề đường làm hỏng hết cả gạch lát vỉa hè, nhưng lâu dần, Thị nhận ra nếu cứ ghét như thế thì thằng Chí con sẽ luôn luôn phải đến trường muộn giờ học. Thôi thì cứ làm kẻ thiếu văn hóa đi cho nó lành! Sau khi làm những chuyện khôn hơn người đó, Nở đến được chân cầu Nguyễn Văn Cừ lúc 7 giờ đúng. Nhưng hỡi ôi, trên cầu Nguyễn Văn Cừ lại là một biển người cũng đang nhích từng tí một. Đã trót thì trét, hai mẹ con Nở đành nhắm mắt đưa chân. Thằng Chí con lầm bầm: “Mẹ ơi, nếu quá 7 giờ 15 mà con chưa đến được cổng trường thì mẹ cho con nghỉ, vì đi học muộn cô sẽ la con, lớp sẽ bị ảnh hưởng đến xếp loại thi đua!”. Nghe Chí con nói, bất giác Nở nhếch miệng cười. Nở nghĩ nếu mình có quyền phán xét thì Thị sẽ xếp cái gọi là “thi đua” này vào hàng “Những điều ngu ngốc nhất của lịch sử phát triển nhân loại”. Trên cầu là mũ bảo hiểm nhấp nhô, trên trời là mây đen kéo đến. Lạy trời xin đừng mưa!

Nói đến mưa, Nở thường hay nhớ lại những tháng ngày vất vả mà hào hùng, những tháng ngày mà Nở đã không quản khó khăn, gian khổ, dốc sức vào sự nghiệp làm hàng hóa phục vụ cho học sinh cả nước. Làm loại hàng hóa đó khổ lắm, nói ra thì người ngoài không thể hình dung được công việc khổ như thế nào, chỉ biết là Nở thường xuyên phải về tối, ngập ngụa trong những cơn mưa. Thời cao điểm, Nở cùng với nhiều đồng nghiệp khác phải bỏ cả chồng con ở nhà, đi công tác hàng mấy tháng trời để làm nhiệm vụ mà xã hội giao phó. Sản phẩm ra đời nếu còn sót bất cứ một lỗi nào – dù nhỏ như con thỏ – thì cũng bị dư luận nhảy bổ vào xỉa xói, bị mang ra trước các cuộc họp để nhắc nhở, bị cấp trên hạ bậc thi đua… Nhưng ơn trời, hồi ấy, Nở đã không vướng vào một lỗi nào. Nở có thể tự hào vì mình luôn làm tốt các công việc được giao. Tuy nhiên, sau khi sản phẩm mà Nở và đồng nghiệp đã đổ hàng vại mồ hôi, hàng núi công sức ấy ra đời thì có thông tin rằng mỗi năm, sản phẩm đó mang lại một khoản lỗ lên đến hàng mấy tỷ đồng cho cơ quan. Tất cả những người trực tiếp tham gia vào công việc đó đều được cơ quan tách ra công ty riêng để tự xoay xở, làm sản phẩm khác mà sống. Từ đó đến nay, trong suốt 5 năm, Nở luôn được thuyên chuyển qua hết công ty này đến công ty khác. 5 năm, Nở không được mở mang, nâng cao công tác chuyên môn, nhưng bù lại, Thị đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong việc khuân bàn ghế và đóng thùng. Lần cuối, Nở được chuyển về công ty hiện tại, Công ty của Thị được giao nhiệm vụ làm ra sản phẩm, nhưng không được đem bán. Việc bán sản phẩm lại được giao cho công ty khác. Nếu có ai hỏi “công việc của bạn thế nào?” thì Nở biết mình sẽ trả lời kiểu như: trồng lúa thì sẽ được hưởng phần gốc, trồng khoai lang thì sẽ được hưởng phần ngọn. Nói thế cho nó ngắn gọn, dễ hiểu.

Trước đây, Nở ngoan hiền lắm. Nở luôn muốn mình là một người lương thiện. Vài ba lần, cơ quan tổ chức các khóa học nâng cao nghiệp vụ, lãnh đạo tuyên bố ai đạt kết quả cao nhất sẽ được cho đi nước ngoài. Nở đã ngây thơ tin điều đó là sự thật , đã cố gắng để có 3 lần đạt được điểm cao nhất, và cho đến bây giờ, Nở vẫn chưa một lần nào được đặt chân ra nước ngoài. Bây giờ Nở khôn ra rồi. Nở biết rằng sống ở đời chả nên tin cái gì quá, rằng muốn đi nhanh thì phải chen lấn, xô đẩy, phải leo lên lề. Sợ gạch lát vỉa hè bị hỏng ư? Thế việc hỏng mấy viên gạch với việc thằng Chí con đi học trễ, bị cô giáo la mắng, lớp bị hạ bậc thi đua thì cái nào đáng sợ hơn?
Dòng người trên cầu cứ nhích dần, cuối cùng cũng xuống đến dốc cầu. Nở chen sang phần đường ô tô để rẽ trái cho dễ, mặc cho mấy chiếc ô tô nối đuôi nhau phía sau lưng Thị bấm còi chửi bới om sòm. Nở cắm đầu nhấn ga chạy một mạch đến trường của Chí con vừa đúng lúc cổng trường định khép lại. Ôi chao, thở phào! Nở nghĩ nên tự thưởng cho mình một tô phở tái. Muộn giờ làm ư, thây kệ! Mà xét cho cùng, Nở cũng có gì để mất đâu! Cùng lắm là phê bình, hạ bậc thi đua, cùng lắm là mất vài trăm nghìn tiền lao động tiên tiến, nhưng Nở lại được ăn phở, được hả hê khi thấy mình chả còn sợ hãi điều gì nữa. Ngày xưa, Chí đã từng gào lên “Ai cho tao lương thiện?” thì ngày nay, Nở cũng có thể vừa thưởng thức tô phở vừa lẩm bẩm “Ai cho ta lương thiện?”. Nở không xưng “tao” như Chí mà xưng “ta” nhé! Dù gì thì Nở cũng là trí thức mà!

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Ác mộng


Ta thăm ngôi chùa cổ ấy lần cuối cùng là vào một mùa hè, nắng vàng như mật tràn đầy con đường dẫn vào chùa, nắng lốm đốm qua vòm lá in xuống đất nhảy nhót theo từng bước chân ta qua.

Năm ấy, ta đi công tác ở Hà Nội. Lãnh đạo chi nhánh nói miệng rằng chuyến công tác kéo dài khoảng 2 tuần, cố gắng thu xếp việc gia đình để đi. Ra đến Hà Nội, gặp đúng mùa “chiến dịch”, lãnh đạo Tổng đề nghị ta phải ở lại, thời hạn không xác định – có thể là 2 tháng – và không được phép về. Lòng ta rối bời vì thương thằng con trai mới vừa 3 tuổi, phải ở nhà với ba, không biết sẽ được ba chăm kiểu gì! Một ngày nghỉ, ta cảm thấy mình đang mất phương hướng. Ta mượn chiếc xe máy của người quen, rong ruổi về phía Hà Tây hỏi đường lên chùa, mong tìm kiếm chút tĩnh lặng cho lòng thăng bằng lại.

Chùa nằm trên một ngọn đồi, xung quanh trồng nhiều loại cây cao, gió xào xạc, mát rượi. Ta đi loanh quanh, ngắm nhìn từ mái chùa cong vút, mềm mại mà uy nghi đến tận những góc nhỏ nhất của ngôi chùa, nơi mà từng dấu ấn chạm khắc tinh xảo của các nghệ nhân xưa vẫn còn lưu lại khắp nơi. Ta sờ tay vào từng bệ đá, từng chiếc cột đã lên nước nhẵn bóng, cảm giác mơ hồ về hồn thiêng, về những Được – Mất của cuộc đời và thấy lòng dần dần thanh thản lại. Những nỗi bực dọc và khó chịu hàng ngày cứ loãng dần ra trong tiếng gió vi vu và tiếng mõ xa xa. Chọn một chiếc cột to, ta ngồi dựa lưng vào đó và thiếp đi dăm phút, vừa đủ để mơ có ai đó cho mình chiếc oản bọc trong giấy bóng tím hồng, bóc ra là dậy một mùi thơm tinh khiết.

Giấc mơ tinh khiết đó, ta giữ mãi trong lòng. Thỉnh thoảng, ở Sài gòn, giữa cái bộn bề của công việc, giữa cái nóng nực, kẹt xe, khói bụi, ô nhiễm…, ta lại mang giấc mơ ấy ra, thả cho nó bay bay lên cao, và ta bay bay lên theo, bỏ lại phía dưới vô số điều phiền muộn.

Thế mà hôm qua, các tờ báo đồng loạt đưa tin dữ: ngôi chùa ấy đã bị người ta phá. Lên mạng gõ tên chùa, ta không còn tin được vào những hình ảnh ô trọc đang phơi ra trước mắt. Cổ họng ta nghẹn đắng.


Tối về trằn trọc mãi, quá nửa đêm, ta phải bò dậy uống 2 viên thuốc ngủ. Lúc thiếp đi, ta thấy một đám người khắc khổ – trong đó có mình – đang còng lưng khuân vác gạch, ngói, xi măng, phá phá, xây xây cái gì đó. Nhìn lên dàn giáo phía trên, ta thấy một đám người khác ăn mặc lịch sự hơn, nhưng trên trán người nào cũng đóng một cái dấu đỏ có chữ “Dốt”. Họ cầm những chiếc roi dài, quất vun vút vào không khí và hò hét điều khiển đám người ở dưới.

Ta toát mồ hôi, tỉnh dậy, tự nhủ “chỉ là mơ thôi!”.
Nhưng có phải chỉ là mơ không? Ai biết!

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Nước C và nước V

Nước C và nước V giáp biên giới với nhau, có thể qua lại bằng xe ô tô. Anh A là công dân của nước C, anh N là công dân của nước V, một hôm gặp nhau, ngồi uống cà phê tâm sự. Gọi là tâm sự, nhưng hầu như chỉ có anh A nói, vì có vẻ anh A là người rất ngưỡng mộ nước bạn. Anh A bảo:

- Nước tôi là nước nhỏ, đang phát triển, còn phải học tập đất nước các anh nhiều thứ. Lần đầu tiên, khi bước qua cửa khẩu là tôi đã nhận ra điều đó. Ở cửa khẩu nước C, du khách ngồi yên trên xe, nhân viên hải quan sẽ lên xe và kiểm tra hộ chiếu. Qua đến cửa khẩu nước V, mọi người phải xuống xe, lôi tất cả hành lý ra xách tay, đi đến chỗ xuất trình hộ chiếu rồi kéo hành lý đi thêm một đoạn nữa. Nhìn tổng quan thì cảm giác như bên cửa khẩu của anh có vẻ lộn xộn, nhếch nhác, nhưng thực ra tôi thấy rất ổn vì làm thế sẽ không để lọt mấy thằng gian nhập cảnh trái phép bằng cách trốn trong gầm xe hoặc dưới gầm ghế.


Tay
xách nách mang đi qua cửa khẩu

- Rất nhiều hệ thống quan trọng của nước C chúng tôi là do người V của các anh đầu tư, như hệ thống xăng dầu, hệ thống viễn thông… Thậm chí cả khu di tích Kỳ quan thế giới mà chúng tôi rất tự hào cũng do người V đầu tư. Người V qua nước tôi làm ăn có vẻ phát đạt, nhưng không hiểu sao ở trong nước, họ hay kêu làm ăn khó khăn? Không lẽ họ hợp với… khí hậu ở nước tôi hơn?

- Nước C chúng tôi có rất nhiều hồ lớn nhỏ, trong hồ có nhiều cá, nhưng nhà nước khuyến cáo người dân chỉ đánh bắt phục vụ cho nhu cầu gia đình, không đánh bắt để bán lại. Trên thực tế thì người dân C hầu hết theo đạo Phật Tiểu thừa, họ sống ngày nào biết ngày đó, nên dù không có khuyến cáo của nhà nước thì họ cũng chỉ đánh bắt vừa đủ ăn, do đó sản lượng cá ở các sông hồ không được khai thác triệt để như nước V các anh.

- Ở nước tôi không dùng thuốc tăng trưởng cho cây ăn trái và vật nuôi, vì thế trái cây của chúng tôi nhỏ và xấu, vật nuôi cũng không khá hơn là bao. Chúng tôi cũng không dùng thuốc trừ sâu nên các loại côn trùng như dế, châu chấu, điên điển, nhện, bò cạp… thả sức mà sinh sôi, nảy nở. Người dân lại mất công đặt bẫy bắt chúng, chế biến thành các món ăn rồi bán cho khách du lịch. Thật mất thể diện quá! Trong khí đó, ở nước các anh, bói ra một con sâu cũng khó khăn. Lâu dần, người dân V lại có một thói quen rất nhân bản và tao nhã là mua sản phẩm ở những nơi bán rau có những lá rau bị sâu ăn, chứng tỏ họ muốn chung sống hoà bình cùng thiên nhiên. Ý thức quá tuyệt!


Dế - một món đặc sản côn trùng được khách du lịch đặc biệt quan tâm

- Ở nước V, mũ bảo hiểm được bày bán khắp nơi, giá rẻ, và đa số người dân chọn mũ giá rẻ để mua. Trong khi đó, người dân nước C thường có thói quen đội mũ bảo hiểm “xịn” dù nhà nước không bắt buộc phải đội mũ. Đó là một thói quen vô cùng trưởng giả vì nước chúng tôi còn nghèo, mua mũ “xịn” là một sự lãng phí không cần thiết. Hơn nữa, số người chết vì tai nạn giao thông ở nước tôi đâu có nhiều như ở nước các anh, việc gì phải đội mũ tốt!


Trước cửa chợ trung tâm: Người đi xe máy toàn đội mũ bảo hiểm loại tốt

- Buổi sáng sớm, ở nước chúng tôi, nếu anh đi chợ, chỉ trả giá mà không mua hàng thì người bán hàng sẽ bảo “nếu anh đi chỗ khác, giá mắc hơn thì quay lại mua hàng của tôi nha!”. Rồi họ cám ơn anh. Tất cả đều theo một công thức tẻ nhạt như vậy. Ngược lại, mấy bữa trước tôi đi chợ ở thủ đô của anh, tôi trả giá rồi không mua hàng, người bán hàng đọc cho tôi một bài rất dài với nhiều âm điệu cao thấp khác nhau mà tôi không hiểu mấy, nhưng nghe rất hay. Trong bài đó có rất nhiều từ “dell”, giống như thương hiệu máy tính vậy. Sau khi đọc bài, họ còn đốt giấy quơ quơ, chắc là một cách để cám ơn tôi đã ghé thăm gian hàng của họ.

- Ở nước tôi có nhiều đảng chính trị. Mỗi lần bầu cử là một lần người dân lại phải mất công băn khoăn suy tính để chọn đảng nào tốt hơn… À, nhưng mà tôi ít học mà lại nói lạc đề sang chuyện vĩ mô mất rồi! Thôi, để tôi tiếp tục nói những chuyện đời thường nhé!

- Tiền của nước C, từ năm 2007-2008 đến giờ, giá vẫn giữ nguyên so với tiền đô. Cứ 4 nghìn của tôi đổi được 1 đô. Trong khi đó, năm 2008, tiền của các anh 15 nghìn đổi được 1 đô, năm 2012, 21 nghìn đổi 1 đô. Điều này là một động thái khuyến khích người dân dùng tiền của nước mình. Cứ đà tăng như vậy, đến năm 2020, tiền V đổi ra đồng đô sẽ khoảng 30 nghìn/1 đồng. Tôi thấy rất OK.

 

- Ở C chúng tôi, hầu hết các công trình điêu khắc công cộng đều có hình tượng người ở tư thế tĩnh, đứng chắp tay cúi chào. Ở những tư thế khác thì bàn tay luôn duỗi, các ngón tay thẳng. Tôi thấy đó là biểu hiện của sự hiền lành đến nhu nhược. Trong khí đó, ở nước các anh, tất cả tranh cổ động, tượng đài… đều ở tư thế xông lên, tay cầm súng, cầm búa như sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù thời bình thì chiến đấu với ai, tôi cũng chưa rõ, nhưng cứ chuẩn bị sẵn đi, thằng nào đánh mình thì mình đánh lại, nếu không đánh được thì quay ngược đầu lại chạy cũng nhanh hơn là cứ ở tư thế đứng yên, phải không anh?


Tượng thần Vishnu ở bến phà
Neak Luong

- Chúng tôi chỉ có 2 điệu múa có thể coi là “quốc vũ” là múa Lâm Thôn và Apsara. Còn ở nước các anh, các điệu múa nhiều vô kể, đến nỗi tôi choáng ngợp vì không còn biết điệu múa nào là đặc trưng của nước các anh nữa! Có thể nói, văn hoá nước của anh hoà nhập với quốc tế một cách nhuần nhuyễn. Đi xem các chương văn nghệ, tôi thấy có tiết mục cầm cờ chạy qua chạy lại giống Trung Quốc, thỉnh thoảng bồng bế nhau, nhón nhón chân giống ballet của châu Âu, rồi ngay sau đó có thể chuyển qua hip hop như Mỹ. Tóm lại là tôi rất ngưỡng mộ.


Một tiết mục trong chương trình múa do Trương Nghệ Mưu đạo diễn, giá vé 40$
Câu chuyện chắc còn dài, nhưng OM chỉ nghe đến đó. Post lên đây để ghi nhớ lại chuyến đi đến đất nước C lần thứ 3

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Sướng – Khổ: Chuyện còn dài


Vấn đề sướng – khổ là vấn đề mà mình luôn nghĩ đến. Mình đã từng viết bài Chuyện Chó Mèo để nêu phát biểu của mình về vấn đề này rồi. Hôm nay, mình lại định viết thêm.

Mình định viết kể chuyện hồi xửa hồi xưa, hồi đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Thời ấy, ở Hà Nội còn chế độ tem phiếu, mỗi người (cán bộ) chỉ được 2 lạng rưỡi thịt mỗi tháng. Cả nhà phải nhường thịt cho đứa trẻ nhỏ nhất nhà lúc đó – là mình – với mong muốn mình đầy đủ chất dinh dưỡng để được khoẻ mạnh và thông minh. Nhưng chỉ với từng đó thịt thì cả nhà có nhường kiểu gì cũng không đủ, cho nên mình bây giờ hoặc là khoẻ mạnh (thì không thông minh), hoặc thông minh (thì không khoẻ mạnh). Cái này mình không tự đánh giá được, cho nên sẽ để đấy cho bạn bè nhận xét.

Mình định kể chuyện hồi ấy, quần áo không đủ mà mặc. Hồi 4 tuổi, có lần thấy ông ngoại có một chiếc quần đùi mới, mình đã bảo “Ông ơi, bao giờ quần ông rách thì ông cho cháu xin, để mẹ cháu may áo cho cháu nhé!”. Hồi ấy, phụ nữ Hà Nội, từ già đến trẻ đều mặc một kiểu giống nhau: áo “phin” trắng hoặc xanh nhạt, quần lụa đen, dép nhựa. Một buổi sáng nào đó, mẹ mình đứng nói chuyện với bạn trai, mình nhìn thấy quần mẹ có một vết mạng rất khéo, mình đã kêu ầm lên “Quần mẹ có chữ T, tên mẹ kìa”, làm mẹ ngượng muốn chui xuống đất. Nhưng mà viết blog phải viết cho văn vẻ, trí tuệ một tí, nên mình không định nói chuyện thịt và chuyện quần áo. Mình định nói là sao hồi ấy khổ thế mà người Hà Nội không mấy ai than khổ. “Em vẫn đạp xe ra phố / Anh vẫn tìm âm thanh mới”, đời vẫn đầy niềm tin, đầy lãng mạn.


Rồi mình định kể chuyện ngày nảy ngày nay. Mình đang sống ở thế kỷ 21, và ở một thành phố lớn nhất trong cả nước. Thế nhưng nếu bạn nào đã được mình mời lên phòng ngủ thì chắc sẽ ngạc nhiên lắm, vì mình giăng mùng và ngủ chiếu (còn nhớ có lần đọc một bài bạn m â y viết từ thời xa xưa có tên là “Hồi nhỏ tôi ngủ mùng” mà thấy bùn cừi, vì bây giờ mình cũng vẫn ngủ mùng, không lẽ mình chưa lớn! Hehe). Phòng ngủ của mình không có máy lạnh, cả một mảng tường lớn là cửa sổ lắp kính. Ban đêm, mình chỉ cần mở hé 1 cánh – trong số 4 cánh cửa sổ – là đủ mát lạnh, phải đắp mền rồi. Đêm nào lãng mạn một tí thì mình nhìn ra cửa sổ, ngắm sao, ngắm những chiếc máy bay bay lướt qua bầu trời, cao hứng thì làm vài câu thơ để rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay, và sáng ra là quên sạch những vần thơ ướp hương đêm hồi hôm. Mình vẫn tự giặt quần áo bằng tay dù nhà có máy giặt. Mình vẫn tắm nước lạnh và đạp xe đạp mỗi buổi chiều thay vì mua những chiếc máy tập thể dục tiện lợi để ở nhà. Mình không trồng hoa hay cây kiểng mà trồng rau muống, mồng tơi, rau cải….


Và mình chẳng thấy mình khổ tí nào!


Mình định nói chuyện xa hơn, như chuyện bên xứ Triều Tiên chẳng hạn. Lãnh đạo Triều Tiên, mấy ông Kim Jong-gì đấy, toàn người trong một gia đình, cứ cha chết thì con lên thay. Họ ăn toàn sơn hào hải vị, ngày nào cũng có tôm hùm được tuyển, chọn những con ngon nhất mà ăn. Trong khi đó, dân Triều Tiên, k
hoảng 16 triệu người, tương đương hai phần ba dân số phải đối mặt với nạn đói. Người Triều Tiên cũng chỉ mặc có một kiểu quần áo, chẳng có Internet mà chơi FaceBook với Yahoo! (eo ơi, làm sao mà chịu nổi). Thế nhưng, hàng ngày, họ vẫn dẫn nhau đến đập đầu bôm bốp vào tượng đài Kim Nhật Thành để tỏ lòng biết ơn.


Vì họ không biết là họ khổ.


Khi không cảm thấy, hay không biết là mình khổ thì có phải là khổ không?

Định viết nhiều lắm, nhưng bỗng nhiên mình tìm thấy trên mạng có bài này, chẳng rõ tác giả là ai. Xem xong, mình sướng quá (vì chủ yếu là xem hình, chả phải đọc gì nhiều), nên quyết định không viết nữa, copy bài người khác lên cho khoẻ!














Đăng bài lên rồi mình sẽ yên tâm đi chơi mấy ngày, để cho bạn bè ra vào, đọc và bình luận. Chủ nhật mình trở về, vào nhà xem các bình luận và tiếp tục… sướng. Xem ra chuyện sướng khổ cũng đơn giản thôi, phải không?

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Kiếp này


Tình cờ mình tìm được lời giải cho lá số tử vi của mình từ năm 1992, lúc mình còn chưa lập gia đình. Người giải lá số này là một cựu sinh viên có 2 bằng đại học ở trường Lomonosov, đã từng làm việc ở một cơ quan phòng chống mê tín dị đoan. Hồi xưa mình mê tử vi lắm, thường tìm đến cô, không chỉ là muốn biết tương lai của mình mà còn là để học lóm. Học một thời gian, mình bị nghiện tử vi, đến nỗi cứ nhìn ai cũng đoán cung Mệnh của họ có sao gì, có đêm còn nằm mơ thấy mình chạy trong dải Ngân hà, chứng kiến sao Thái Dương và Thái Âm gặp nhau… Sau khi có con, mình tự hứa là sẽ bỏ hẳn tử vi, vì không muốn có một yếu tố nào ảnh hưởng và chi phối cuộc đời mình nữa.

Đây là toàn bộ nội dung mà mình ghi lại khi cô ấy cầm lá số của mình trên tay và “đọc” một cách trôi chảy như đọc… báo.





Đúng 20 năm đã trôi qua, giờ đọc lại bỗng rùng mình vì độ chính xác của nó. Chẳng lẽ có gì đó – thật vô hình – đã chi phối cuộc đời mình như vậy sao?

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

Mong



Tối hôm qua, bác nhìn thấy những hình ảnh đầu tiên của con gái khi con vừa chào đời. Mới nhìn qua màn hình vi tính thôi là thấy yêu rồi! Bác sẽ yêu con như 17 năm trước đã yêu chị của con. Mong cho con xinh đẹp giống mẹ. (Kể ra giống bố cũng hay, nhưng phải trừ khoản râu quai nón nhé!). Mong cho tuổi thơ con được hưởng trọn vẹn những điều tốt đẹp hơn chị của con. Đến tuổi đi học, con sẽ có “mỗi ngày đến trường là một niềm vui”, sẽ học xuất sắc toàn diện như chị Apù và không bao giờ phải đi học hè như anh Tí Nhân. Học hết phổ thông, con sẽ học đại học như bác, sẽ học lên cao học như mẹ. Khi ra trường, con được làm đúng nghề mà con yêu thích, không phải loay hoay phí phạm chất xám để tìm cách tồn tại trong những cơ quan không biết tôn trọng nhân cách con người, và quan trọng là con phải sống được bằng nghề của mình. Con sẽ lấy một người chồng – không cần phải giàu có – nhưng luôn yêu con và con cũng yêu anh ấy. Hai đứa con sẽ mua nhà  ở gần cha mẹ để mỗi ngày con sẽ được chạy qua ôm ba mẹ của con. Rồi con sẽ sinh ra những đứa con ngoan ngoãn, xinh gái như… bà ngoại chúng lúc 16 tuổi, đẹp trai như ông ngoại chúng lúc 30 tuổi…

Mai đây, khi lớn lên và đọc lại những dòng này, có thể con sẽ hỏi sao bác mất công mong mà không mong những gì to tát hơn cho con? Bác cũng muốn những điều to tát cho con lắm, nhưng ở thời điểm này, bác chưa thể nghĩ ra được điều gì tốt đẹp hơn thế. Mỗi thời sẽ có những mơ ước khác nhau, con sẽ có những ước mơ của riêng mình và một ngày nào đó con sẽ viết tiếp vào bài này giùm bác, con gái nhé!

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Dương bản

Bạn m â y bảo mình viết trừu tượng, cao siêu quá, làm bạn lùng bùng.

Bạn m â y bảo ghé nhà sao chưa thấy “dương bản’ đâu, nên bạn bay đi mất rồi.

Thế cho nên bây giờ mình phải đưa lên đây mấy cái dương bản của tuần thứ 26 trong năm – 1 tuần lễ đầy mệt nhọc, loay hoay với đủ thứ chuyện. Mấy cái dương bản của mình không có tí văn học nào, không có tí ẩn dụ, trừu tượng nào, nó trần trụi và…

Thôi, không vòng vo nữa, kể luôn đây!

Đầu tuần, mình dẫn con đi bệnh viện NĐ2 chụp X quang ruột theo chỉ định của BS. Cả ngày hôm trước, Tí Nhân phải ăn cháo, sáng tháo ruột, nhịn ăn uống và chỉ được ăn sau khi đã chụp xong. Ở bàn tiếp nhận hồ sơ, BS không ngẩng lên, nói cộc lốc: Ra kia chờ! Đứng mãi, thật lâu sau mới có chỗ ngồi, hai mẹ con vừa ngồi vừa thấp thỏm vì chẳng biết mình là người số mấy, chụp ở phòng nào trong dãy 5 phòng chụp và phải chờ khoảng bao lâu mới tới lượt mình? Cách khoảng 15-20 phút lại có một BS ở một trong những phòng chụp thò đầu ra gọi tên, tiếng BS lẫn vào tiếng ồn ào của phụ huynh, tiếng khóc lóc của đám trẻ con đứng ngồi la liệt. Chờ nửa tiếng đồng hồ, nửa tiếng nữa, rồi thêm nửa tiếng nữa… mãi vẫn chẳng thấy BS gọi tên, Tí Nhân mặt tái đi vì đói và mệt. Mình đánh liều ra hỏi BS ở quầy tiếp nhận hồ sơ thì được trả lời “đông lắm, cứ chờ đi!”

Mình động viên Tí Nhân cố lên, hai mẹ con quyết định không thèm nhìn chăm chăm vào mấy cái cửa đáng ghét nữa. Tí Nhân quay sang nhìn mấy bạn gái chạy lắng nhắng xung quanh, mình thì “tia” được một cháu trai cỡ 24-25 tuổi, dẫn vợ và con gái mới sanh đi khám. Phải công nhận là cháu đẹp trai, cao chừng mét 75, dáng chuẩn, mặt dễ thương cỡ diễn viên Bình Minh. Mình chỉ cho Tí Nhân, bảo: “Con phải cố gắng ăn uống, tập luyện để được như anh kia”. Tí Nhân làu bàu: “Sao dẫn con đi khám mà mẹ cứ lo nhìn trai đẹp không vậy!”

2 tiếng rưỡi trôi qua, cuối cùng BS cũng gọi đến tên. Vào phòng chụp, Tí Nhân được lệnh cởi hết đồ, nằm lên bàn. Mẹ đứng bên cạnh vừa đủ để nghe Tí Nhân thì thầm: “Trời ơi, sao mình lại sexy thế này!”

Giữa Ngọ, hai mẹ con mới lấy được phim, vội vã ra bãi lấy xe đi về. Loay hoay mãi mình mới tìm thấy xe bị nhét vào một xó xỉnh khác hẳn chỗ để hồi sáng, và mất thêm 10 phút nữa để hai mẹ con lôi được xe ra, chẳng hề thấy nhân viên nào ra tay giúp.  Bây giờ ở khắp nơi, người ta đã dùng hệ thống camera và thẻ quẹt, nhưng BV này vẫn giữ cách truyền thống là xé nửa vé gắn vào xe, nửa kia đưa cho khách. Cả buổi sáng, xe mình bị dời từ chỗ nọ sang chỗ kia, phần vé mình giữ thì vẫn còn, nhưng phần gắn vào xe thì đã rơi mất. Ông bảo vệ bảo: “Chị gọi điện về nhà cho người thân rồi nói người thân đọc số xe của chị cho tôi nghe, nếu đọc đúng thì chị được lấy xe ra”. Mình gọi cho cô giúp việc ở nhà, cô bảo “Em không nhớ”. Lòng đầy hoang mang, mình gọi cho chồng – dù biết chắc anh giai sẽ là người đầu tiên quên – không những số xe mà còn tất cả những thứ liên quan đến mình như số nhà, số điện thoại, sinh nhật, tên công ty mình đang làm… Và quả nhiên là anh giai không nhớ. Chỉ có một người duy nhất nhớ số xe mình là cô bạn thân cùng cơ quan, nhưng bạn mình luôn có thói quen rất dễ thương là người di động, còn điện thoại thì cố định trong ngăn kéo. Tóm lại là hai mẹ con mình gửi xe lại và vẫy xe taxi về.

Bài học đầu tuần hơi dài, đó là: Không nên bệnh, lỡ bệnh thì cố nhẹ nhẹ thôi để khỏi đi BV, đi BV thì cố đừng nhìn mặt BS, kẻo thêm chán, ráng tìm trai đẹp mà ngắm, nhưng đừng nói cho ai biết là mình ngắm. Cuối cùng là nên dặn dò một người thân – không phải là chồng – ghi nhớ các thông tin của mình để phòng khi – không phải vé xe thất lạc – mà chính mình bị lạc đâu đó thì còn có cơ may mà tìm lại.

Giữa tuần, một buổi sáng đang ngồi làm việc thì thấy chị bạn thân chat qua Yahoo: “Hi em, chị đang ở Huế, để quên điện thoại ở nhà mất rồi!”. Chuyện qua lại một hồi, chị bảo rằng đi vội vàng nên bỏ quên cả tiền, bây giờ nhờ em nạp tiền vào tài khoản cho chị. Mình im bặt, vội vàng lấy điện thoại ra gọi vào số của chị. Đầu bên kia, chị bắt máy – hoá ra chị bị cướp nick và mình suýt ăn phải quả lừa. Mình chột dạ, vội vàng vào trang của mình đổi lại mật khẩu và nhân tiện xoá hết các thông tin cá nhân quan trọng xưa nay mình vẫn lưu trong hộp thư. Chợt nhớ tới phim The Net, trong đó một cô gái bị bọn tin tặc cướp mất thông tin cá nhân trên mạng và biến cô thành một người khác ở ngoài đời.

Bài học giữa tuần: Đừng coi thường những giá trị ảo. Đôi khi giá trị ảo lại trở thành những Được - Mất cụ thể mà ta chưa hình dung được.

Cuối tuần, em gái chat với mình “Chị Hai đã về nhà mẹ chưa, nhà mẹ lại mới bị trộm leo vào đấy!” Trời đất thánh thần ơi, thế mà mẹ chẳng báo với mình một tiếng. Thì ra mẹ nói với một người bạn và thông tin đó được truyền qua mạng, bay sang Mỹ rồi mới bay về VN và cuối cùng mới đến mình. Cháu gái đi Hà Nội chơi, bà ở nhà một mình, trộm leo lên lầu, (bằng đường nào thì đố ai biết được!) Cũng may mà nhà mẹ - sau lần trộm vào tháng trước – đã gắn hệ thống báo động nên không bị mất mát gì. Cuối buổi, mình phi về nhà mẹ hỏi sao mẹ không báo cho con. Mẹ cười “Có mất gì đâu mà phải báo!”
“Thế đang đêm, còi báo động rú lên, mẹ có sợ không?”
“Giật mình chút thôi, chả sợ!”

Mình ôm mẹ. Thương quá!

Bài học cuối tuần: Những người con cứ loay hoay không biết làm thế nào để lo cho mẹ thì ít nhất cũng nên chạy về ôm mẹ mỗi tuần một lần. Thực ra, mẹ cũng chỉ cần có bấy nhiêu thôi!

Đó, chuyện Dương bản của mình như thế. Có ai kêu ca gì nữa không?

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Âm bản

Những đứa trẻ của thế kỷ thứ 21 sẽ dần dần không còn biết đến khái niệm về máy chụp ảnh phim, và khi được hỏi “phim chụp ảnh là gì?” thì cha mẹ chúng sẽ phải trả lời dài dòng rằng “hồi xưa, lúc con chưa ra đời…”

… Vậy là hồi xưa – thực ra cũng chưa phải là xưa lắm – lúc công nghệ kỹ thuật số chưa ra đời, OM đã từng rước về nhà khoảng gần chục “anh bạn” với những “khẩu súng” dài ngắn khác nhau. Các anh cùng có chung một đặc điểm là nồi đồng cối đá, phần cơ gần như chẳng bao giờ hỏng. OM luôn có một cảm giác lâng lâng khó tả khi ôm cái body của các anh lên ngang mày, dí mũi hít hít cái mùi đặc trưng không lẫn vào đâu được, vừa thấy mình thật hạnh phúc vì có từng ấy anh trong tay, vừa thấy lòng tham của mình trở nên vô đáy vì lúc nào cũng khao khát có thêm nhiều anh nữa.

Vì yêu các anh ngày xưa quá, nên mở đề dài dòng, thực ra bài này chỉ định xoay quanh cái tựa đề “Âm bản”. Tiếp theo câu chuyện, …vậy là cha mẹ sẽ phải giải thích cho những đứa trẻ thế kỷ 21 rằng: máy ảnh hồi xưa chủ yếu chụp bằng phim âm bản. Phim âm bản sẽ được đưa vào máy rọi (phóng) ảnh để in hình xuống giấy ảnh. Giấy ảnh sau khi bắt hình từ phim rọi xuống, được nhúng vào thuốc hiện rồi ngưng lại trong thuốc hãm, sẽ cho ra những tấm ảnh để lại cho đời sau. Chuyện phòng tối rất thú vị và ly kỳ, OM sẽ kể khi nào có dịp, còn hôm nay chỉ kể về những tấm ảnh thuộc loại đặc biệt thôi.

Để có tiền chơi ảnh, OM phải làm thêm, phải đi chụp các loại “đám”. Đám cưới, đám sinh nhật, đầy tháng, thôi nôi… thì khỏi nói, vì nó luôn mang niềm vui đến cho mọi người và mang… tiền về cho OM. Nhưng ngoài các đám vui vẻ ấy ra, còn một đám khác buồn đến nẫu người – là đám ma. OM chụp đám ma xong, khuya về, đem phim vào phòng tối, ngồi một mình và làm những việc cần phải làm. Khi những tấm giấy ảnh được nhúng vào thuốc hiện, gương mặt người chết hiện lên từ từ dưới ánh sáng đỏ quạch leo lét, sóng sánh trong làn nước thuốc. Có nhiều lần, OM chợt thấy ớn lạnh, nổi gai ốc khi cảm giác ai đó đang lơ lửng đứng phía sau lưng, đang chăm chú xem những động tác mình làm. Đó chính là những giây phút mà triết lý về sự sống và cái chết luôn hiện về, lảng bảng trong bầu không khí 2m vuông đặc quánh của phòng tối.

OM trong phòng tối (Ảnh chụp khoảng năm 1990)


Người ta thuê thợ ảnh chụp đám ma vì… phải có ảnh, chứ thực ra khi đem ảnh đến cho gia đình, chẳng ai trong số họ buồn giở ra xem. Tuy nhiên, gia chủ luôn luôn cần một tấm ảnh khác, đó là ảnh chân dung để thờ. Không phải ai cũng có sẵn một tấm ảnh chân dung của người thân để chuẩn bị cho ngày người ấy ra đi. Thường thì chân dung được tách ra từ một tấm ảnh chụp chung nào đó và họ thuê OM làm lại sao cho đủ chất lượng để đặt lên bàn thờ. OM không có tiền mua ống kính macro để chụp lại những tấm ảnh nhỏ nên phải chế ra nhiều cách. Có thể quay ngược ống kính normal, một tay giữ chắc cho ống kính khít vào thân máy, tay kia bấm nút chụp. Cách này nhanh nhưng hơi khó và ảnh thường chỉ rõ phần giữa, mờ xung quanh. Cách thứ hai là lại… vào phòng tối! Trong bóng tối hoàn toàn, OM cắt một đoạn phim chưa tráng gắn vào máy rọi với mục đích biến máy rọi thành máy ảnh. Đặt tấm ảnh nhỏ xíu xuống mặt bàn và hắt vào đó một nguồn sáng trong tích tắc, tấm phim sẽ bắt được hình của tấm ảnh và ta có được một phim âm bản. Trong khoảnh khắc khi ánh sáng đèn loé lên, bắt vào gương mắt người đã khuất, nếu điều đó diễn ra một trăm lần thì cả một trăm lần OM đều cảm giác như người đó vụt sống dậy. Hàng ngàn thước phim cuộc đời họ, những buồn - vui, được - mất, hạnh phúc - đau khổ… như vừa quét qua và cô đặc lại trong một giây loé sáng.

Sau khi đem tấm phim âm bản đó rọi lại và in ra thành ảnh, OM còn một công đoạn nữa là ngồi “tút” lại ảnh. Công việc là dùng mũi dao lam cạo lên những vùng bị rạn, bị xước để giấy ảnh có thể bám màu và dùng một loại màu đặc biệt chấm lên đó. Việc này đòi hỏi tập trung cao độ, khéo tay và tỉ mẩn. Vừa làm, OM vừa “trò chuyện” với bức ảnh “Ông / Bà chịu khó tí nhé, cháu làm cẩn thận cho đẹp, để cho con cháu ông / bà hàng ngày nhìn, nhớ đến ông / bà những lúc đẹp lão như thế này…” OM làm công việc đó, trước tiên là để có tiền – tất nhiên – nhưng có lẽ cũng không hẳn là để có tiền. Làm để mà làm thôi, cứ làm như thế với hết khả năng và tấm lòng của mình và cảm giác mình đã lưu giữ được những điều đẹp đẽ.

Khi ông bà ngoại bước sang tuổi “xưa nay hiếm” cũng là lúc OM đã thôi chơi ảnh, ông bà nhờ OM đem ảnh ra tiệm thuê người ta làm sẵn cho những bức hình thờ. OM không muốn đem ra tiệm vì người ta chỉ làm cho tấm hình “nhẵn nhụi”, da dẻ hồng hào, đẹp lên theo cách mà thợ ảnh cho là đẹp. OM muốn tự tay làm hình cho ông bà với tất cả những tình cảm của mình. Này là mái tóc bạc phơ của ông bà – mái tóc mà lúc OM chào đời, nó vẫn còn đen nhánh, mái tóc mà khi lớn lên một chút, OM đã bao lần vừa tìm nhổ những sợi bạc, vừa nghe ông bà kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Này là ánh mắt yêu đời, mãi trẻ trung cho đến tận những ngày cuối đời của ông. Này là cái vết nám nho nhỏ trên má của bà mà lần nào ra Hà Nội, OM cũng phải sờ lên đó…, OM muốn giữ lại tất cả…

Chỉ có một tấm hình thờ mà OM hầu như không sửa chữa gì cả, đó là tấm hình của ba. Ba mất đi ở tuổi 55, cái tuổi mà người ta còn sung sức lắm, còn yêu cuộc đời này lắm… OM không sửa và cũng không thể sửa gì được, vì một khi trái tim ta còn đau thì bàn tay ta chẳng thể làm được việc gì cho chính xác.

Hôm rồi về quê, thấy má (chồng) đã chuẩn bị một bức ảnh thờ. Thợ ảnh sửa cho gương mặt má thành “mặt hoa da phấn láng o”, phông nền phía sau tím tím hồng hồng như phông nền đám cưới. Má có vẻ không hài lòng. OM hứa “Con về nhà sẽ làm cho má một tấm thật đàng hoàng”. Nói là làm. OM tìm được một tấm má không cười, nhưng ánh mắt có sẵn nụ cười sâu ở bên trong. Nụ cười của một người mẹ mãn nguyện khi thấy đàn con mà mình đã chắt chiu từng chén cơm, từng tấm áo nuôi cho khôn lớn, nay đã trưởng thành. Bây giờ có công nghệ kỹ thuật số, làm hình khoẻ rồi, cứ nhẩn nha trên photoshop, làm không ưng thì lại sửa. Vừa làm ảnh cho má trên máy tính, OM vừa tủm tỉm cười, hình dung mình 40 năm nữa cũng sẽ phải làm hình thờ. Lúc ấy, bà OM gàn dở chắc là sẽ nhất định không cho con cháu đem hình mình ra tiệm vì “lỡ chúng nó sửa bà thành mặt hoa da phấn, xoá mất tiêu mấy cái tàn nhang trên má thì còn gì là bà nữa!”

Đó là nghĩ cho vui, có khi đến lúc ấy, công nghệ sẽ chuyển sang một loại hình mới, không biết chừng lại quay về Âm bản! Thì sự phát triển của xã hội mình đôi khi vẫn ngược dòng đấy thôi, chẳng đoán trước được! Chỉ có một điều chắc chắn là chúng ta đang sống trong thế giới Dương bản, nhưng cũng đôi khi ta đứng thật lâu trước tấm ảnh của người thân và cảm nhận một cách rõ ràng rằng: gương mặt thân yêu đang nhìn thẳng vào ta là nhân chứng cho sự giao thoa giữa Âm bản và Dương bản…
Suy nghĩ thế có trừu tượng quá không?

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Công đã bị biến thành Quạ như thế nào?


Chắc ai cũng biết câu chuyện về Công và Quạ. Chuyện kể rằng Công và Quạ cùng dùng chung một hộp màu vẽ, nhưng Công được sở hữu có bộ lông tuyệt đẹp, còn Quạ do quá tham ăn, nôn nóng, nên cuối cùng đành khoác một bộ lông xấu xí.

Chuyện hồi xưa là thế, còn hôm nay mình muốn nói đến chuyện hiện đại hơn, đó là Công đã hoá thành Quạ như thế nào? Nhưng mà sáng nay trời hơi âm u, gợi cho mình hứng thú nói đến chuyện thơ, chuyện nhạc, cho nên mình rẽ ngang, nói chuyện thơ nhạc trước.

Mỗi bộ môn nghệ thuật đều có một ngôn ngữ thể hiện khác nhau. Ví như nếu ai bảo “Bức ảnh này đẹp như tranh” thì mình thấy thật khập khiễng, hoặc là “Bức tranh này tuyệt vời, trông như ảnh” thì mình giận lắm đấy! Tuy nhiên, riêng thơ và nhạc thì mình nghĩ phải gắn bó mật thiết với nhau. Nhiều bài thơ hay, đọc lên nghe như có giai điệu, có tiết tấu của âm nhạc, và hầu hết các ca khúc hay đều có ca từ gợi chất thơ, hoặc bản thân ca từ chính là một bài thơ. Mình rất không thích những bài hát thiếu chất thơ trong ca từ. Có một số bài khá nổi tiếng, nhưng sự thực là mình không muốn nghe, như loạt bài Không tên của Vũ Thành An, hay loạt bài Bức thư tình của Đỗ Bảo là những ví dụ cụ thể. (Xin lỗi các nhạc sĩ, đây chỉ là ý kiến cá nhân.)

Một nhà thơ khi nghiêm túc lao động để sáng tác một bài thơ nào đó, trước khi đem ra trình làng, chắc chắn anh ấy đã phải cân nhắc kỹ lưỡng từng từ, từng chữ. Mỗi từ, mỗi chữ anh ấy “nhả” ra đều là “máu thịt” của mình. Tuy nhiên, khi anh nhạc sĩ đem bài thơ ra phổ nhạc thì bài thơ chuyển thành loại hình nghệ thuật khác, đó là ca khúc. Ca khúc thì lại là tác phẩm của nhạc sĩ chứ không chỉ là của riêng nhà thơ nữa.

Có một số nhạc sĩ đã phổ nhạc thơ rất hay như Phạm Duy, Ngô Thuỵ Miên, Phú Quang, … Mình rất thích Phạm Duy với loạt ca khúc phổ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư… Thử so sánh một bài thơ gốc – Thoáng hương qua của Phạm Thiên Thư với ca từ trong bài hát Em lễ chùa này của Phạm Duy

Bài thơ gốc:

Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp

Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn

Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt

Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy



Và lời bài hát:

Đầu mùa xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp

Mùa hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn

Rồi mùa thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng

Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy.



Vẫn trên nền cấu tứ của bài thơ gốc, ca từ đã được đổi lại cho hợp với nhịp 3/4 và điệu Valse nhịp nhàng, thanh thoát thật tuyệt vời.

Thử một so sánh nữa:

Bài thơ Em hiền như Ma soeur của Nguyễn Tất Nhiên:

…đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!


đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa
đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa ?


vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn ma soeur .


Và bài hát của Phạm Duy với điệu Boston:

Đưa em về dưới mưa,
chiếc xe lăn dốc già
Đưa em về dưới mưa,
áo em bùn lưa thưa
Đưa em về dưới mưa,
hỡi cô em bé nhỏ
ôi duyên tình đã qua,
có bao giờ không xưa?
Vai em tròn dưới mưa,
ướt bao nhiêu cũng vừa
Như ưu tình đã xa,
thấm linh hồn Ma soeur.

Làm một vài so sánh để thấy nhạc sĩ đã bỏ công sức đầu tư vào lời ca với thái độ thật đáng trân trọng. Tương tự như vậy, với bài Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, nhạc sĩ Trần Tiến đã làm nên một ca khúc nổi đình nổi đám suốt những thập niên 80-90. Điều đáng nói là nhạc sĩ chỉ lấy ý tứ của bài thơ, còn ca từ đã được sáng tác lại hoàn toàn để phù hợp với xu thế hiện đại.

Mình luôn hứng thú với những ca khúc nổi tiếng phổ từ những bài thơ được giữ nguyên gốc. Nghe những bài này, mình cảm thấy như được xem con công này biến thành con công khác. Đối với những bài được nhạc sĩ sửa đổi lời như mấy ví dụ trên, mình lại như được thấy chim công đã hoá thành chim phượng.

Còn bây giờ mới nói đến chuyện Công hoá thành Quạ đây!

Cách đây khoảng chục năm, mình với mẹ đi xem một buổi ca nhạc chủ đề về Hà Nội, trong đó có bài Hà Nội mùa vắng nhưng cơn mưa do ca sĩ QL trình bày. Khi ca sĩ hát đến câu “Đường cổ như xưa chầm chậm bước ta về”, cả mẹ và mình đều há hốc miệng ngạc nhiên, cứ ngỡ nghe nhầm. Lần sau cố dỏng tai lên để nghe cho rõ thì vẫn thấy ca sĩ hát “Đường cổ như xưa…” Sợ thật! Cũng bài này do ca sĩ CV hát, cảm giác khó chịu vẫn không rời bỏ mình. Lời gốc: “Hoa sữa thôi rơi / Em bên tôi một chiều tan lớp…” nghe có vần có điệu, có chút sương khói mong manh, trong sáng của mối tình thơ dại. Nhưng ca sĩ đã phũ phàng sửa thành “Hoa sữa thôi rơi, ta bên nhau một chiều tan lớp…” nghe trôi tuột hết mọi cảm xúc. Chưa hết, ca sĩ còn tiếp tục sửa “Hơi ấm trao em tuổi thơ ngây” thành “Hơi ấm trao anh tuổi thơ ngây”. Ối giời ơi, thế có chết không! Có cái thơ ngây mà em trao xừ nó cho anh mất rồi thì em còn gì nữa!

Kể thêm mấy trường hợp nữa:

- Bài Điều giản dị có câu “Người yêu ơi dù mai này cách xa / Mãi mãi diệu kỳ là tình yêu chúng ta…”. Nghe lời ca có thể cảm thấy một tình yêu da diết. Người ta yêu nhau đến nỗi luôn khắc khoải về một ngày mai có thể mất nhau… Nhưng ca sĩ đã tự ý đổi lại “Người yêu ơi, đừng bao giờ cách xa…” Rõ là Điều giản dị đã được biến thành Điều… phình phường!

- Bài Một mình. Lời gốc:

Vắng em còn lại tôi với tôi
Lá khô mùa này lại rơi
Thương em
mênh mông chân trời lạ
Bơ vơ chốn xa xôi

Karaoke đã sửa thành: Thương em anh mong chân trời lạ… Rõ chán! Thương nhớ kiểu gì mà vợ vừa mới qua đời đã “mong chân trời lạ…” thế nhỉ!

- Bài Thu quyến rũ có câu Mây bay về đây cưới trời – một ý thơ lạ và hay, nhưng tất cả các ca sĩ từ xưa đến nay đều không rõ ý này và hát thành Mây bay về đây cuối trời. Nghe thì cũng xuôi tai, nhưng làm phí mất công tìm tòi của nhạc sĩ.

- Bài Em ơi Hà Nội phố có câu Một chiều phai / (nghỉ nửa nhịp và nhấn mạnh từ “phai”) Tóc em bay. Ca sĩ Lê Dung, Mỹ Linh và Sao Mai đã hát đúng tinh thần đó, nhưng nhiều ca sĩ khác hát liền và không nhấn nên lời ca trở thành Một chiều / Phai tóc em bay và làm hỏng đi cái ý rất đẹp của “một chiều phai”.

- Bài Thuyền và biển có câu Nếu phải cách xa anh, em chỉ còn bão tố, với ý nghĩa Thuyền tượng trưng cho người con gái. Tuy nhiên, đa số nam ca sĩ tự ý sửa thành Nếu phải cách xa em, anh chỉ còn bão tố, làm cho câu thơ trở nên vô nghĩa.

- Bài thơ Chút tình đầu của Đỗ Trung Quân khi phổ nhạc được đổi thành Phượng hồng. Chút tình đầu nghe ngây thơ, trong sáng và “không đụng hàng”, nhưng Phượng hồng thì đã nghe tên nhiều bài na ná như Phượng yêu, Phượng buồn, Nỗi buồn hoa phượng…, tóm lại là làm ta nhớ đến dòng nhạc sến. Ngoài ra, Chút tình đầu là sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối bài, còn Phượng hồng thì chỉ thấy xuất hiện ở đoạn đầu, nên mình cho việc đổi tên như thế làm giảm giá trị của bài thơ. Bài thơ gốc có đoạn:

Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiều – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi… thành câm.

Nghe có vần điệu và logic.

Lời bài hát được sửa thành:

Mối tình đầu của tôi
Nhờ cây đàn buông tiếng xa xôi
Ai cũng hiểu – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.

Lời ca trở nên mất hẳn vần ở câu cuối như ta đang ăn thì nhai phải sạn và chả còn logic nữa. Đã khờ dại, đã ngọng nghịu như thế còn đứng đó mà làm thơ gì nữa nhỉ!

Ồ ố ô, Công đã hoá thành Quạ như thế đó. Và chiều thứ sáu vừa rồi, có một con công của mình cũng vừa hoá quạ. Con công của mình như thế này:



Và sau khi “được” chỉ đạo chỉnh sửa, nó đã thành thế này:



Thôi thì đành tìm một cái tên hoạ sĩ Nguyễn Thị X Y gì đó thay vào tên của mình ở trang cuối vậy!

Ghi chú: Yahoo lại tra tấn mình bằng cái câu vô duyên muôn thuở: Bài này đã bị xoá. Đăng đi đăng lại cả mười mấy lần rồi mà không được!

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Triệu phú chợ huyện


Triệu phú vừa là bạn, vừa là em rể của L. Nhớ hồi năm tám mấy, lúc L còn làm nghề chạy sà lan dọc sông Hậu, một lần Triệu phú rủ L đi cà phê rồi vỗ vai: “Tui nói với ông chuyện này, tui thương em gái ông, tui nhận ông làm anh nha!”.

Đám cưới được tổ chức khá rình rang, cô dâu 20 tuổi đang học cao đẳng Tài chính – Kế toán, chú rể 22 tuổi quản lý một cơ sở xay rang cà phê to đùng của cha mẹ để lại. Nhà gái ở mãi trong miệt vườn, cả nhà sống nhờ vào vườn trái cây mà cha mẹ cô dâu phải trần lưng, bạc mặt quanh năm, để đến mỗi vụ mùa, thương lái vào mua với giá rẻ mạt, nên gả được con vào chốn no đủ, ông bà mãn nguyện lắm. Nhà trai cũng phấn khởi không kém vì cưới được con dâu vừa xinh đẹp, vừa có chút học thức, đủ để mai này có thể giúp chồng quản lý công việc. Mới đó mà mấy chục năm đã trôi qua, con trai Triệu phú giờ vừa tốt nghiệp trường RMIT, đang thử sức ở mấy công ty nước ngoài, đặng kiếm thêm kinh nghiệm, mai này ra làm ăn riêng. Con gái Triệu phú đang học THPT, một ngày kia chán học, bỏ ngang ra mở thẩm mỹ viện. Triệu phú không quan tâm mấy đến chuyện học hành bằng cấp này nọ, nên thấy con gái biết làm ăn cũng ưng bụng lắm.

Nghe tin L nghỉ phép, dẫn vợ con về quê chơi mấy ngày, Triệu phú gọi điện:
- Ông đang ở đâu?
- Tui đang ở chợ, sáng mai mới vô trong vườn.

Triệu phú lập tức sai người đem một chiếc xe máy mới cáu đến cho L mượn, không quên kèm theo mấy chiếc nón bảo hiểm và lời nhắn: “Tối nay chơi chút nha ông!”.

Trong từ điển của Triệu phú, chơi tức là tụ tập, nhậu và chuyện phiếm. Không ngày nào là Triệu phú không chơi. Buổi sáng, khoảng 10 giờ, Triệu phú thức dậy, chậm rãi uể oải đánh răng rửa mặt, rồi rủ bạn đi cà phê đến trưa. Cà phê xong, cảm giác tỉnh táo, Triệu phú ngó nghiêng nhà xưởng, cửa hàng, nựng vợ mấy cái, nhắc nàng thỉnh thoảng nên đi massage và thẩm mỹ, rồi gọi điện bàn bạc với các chiến hữu xem tối nay chơi ở đâu. Từ chiều đến tối, Triệu phú giải trí với mấy trò game trên máy tính, xem TV, nghe ngóng cá độ, lướt qua tin tức giá vàng, giá đô, chứng khoán, tai nạn xe cộ, đâm chém cướp giật…, để tối đến có chuyện góp phần rôm rả cho cuộc chơi. Chơi xong sớm thì khoảng 11 giờ khuya, Triệu phú về nhà, muộn hơn thì khoảng 1 giờ sáng. Việc đầu tiên là Triệu phú lên phòng kiểm tra xem vợ có nhà không. Thấy vợ nằm trên giường, Triệu phú cười sằng sặc tự nhủ “Nó không ở trên giường thì còn ở đâu nữa!”, rồi Triệu phú lay vợ dậy, tiếp tục cười sằng sặc, thở vào gương mặt xinh đẹp của nàng những lời có cánh và những câu chuyện tiếu lâm vừa được nghe trong cuộc chơi. Vừa kể, Triệu phú vừa nghĩ bụng “Mình nói chuyện càng ngày càng có duyên như vầy, con vợ nào mà không mê mình mới lạ!”.
 

Em gái L từ lâu đã buộc phải quen với kiểu sinh hoạt của chồng. Hàng ngày, nàng phải dậy sớm điều hành công việc với gương mặt phờ phạc vì thiếu ngủ. Cũng may, buổi trưa thì nàng được ngủ bù, lúc nào mệt quá thì bỏ cửa hàng cho một người bà con thân cận trông coi rồi đi spa thư giãn. Thỉnh thoảng, nàng lên Sài Gòn thăm con trai, kết hợp mua sắm một mớ hàng hiệu. Nàng vừa lên xe là Triệu phú phải gọi điện ngay và cứ thế gọi liên tục mỗi giờ một cuộc, cho đến đêm khuya. Có vợ đẹp, phải gọi kiểm tra nó, để nó đi lạc, có thằng khác “dớt” mất thì sao! Mỗi năm một lần, vợ Triệu phú phải đi thẩm mỹ viện. Gì thì gì, đã là vợ của Triệu phú thì cũng phải đẹp để Triệu phú còn hãnh diện với bạn bè chớ!

Chập tối, y hẹn, Triệu phú gọi điện cho L thông báo địa điểm chơi. L ra quán, ngồi một lúc thì Triệu phú quần lửng hiệu Nike, áo thun hiệu Puma, mang dép lào xuất hiện với mùi nước hoa Boss thơm nức. Ngồi phía sau xe còn có một Triệu phú bạn, quần kaki lùng thùng, áo sơ mi cũ cáu bẩn với gương mặt cháy nắng nhàu nhĩ. Bà chủ quán – nghe đâu cũng là một triệu phú, cỡ chừng năm mươi ngoài với khuôn mặt hoàn toàn là sản phẩm của giải phẫu thẩm mỹ – đon đả chạy ra chào khách bằng giọng khàn khàn. Bà khoác vai nựng Triệu phú mấy cái, khen dạo này trông ông phong độ, khen L ở đâu ra mà đẹp trai quá, rồi la hét đám phục vụ mau mau mang mồi ra cho khách quen. Đoạn, bà cũng ngồi vào bàn tán  chuyện y như dân chơi thứ thiệt.

Câu chuyện rôm rả xoay quanh các vấn đề thể thao, kinh tế xã hội: đội Chelsea thắng, đội Bayern Munich thua, giá vàng xuống, cà phê lúc này được giá, chứng khoán đỏ lè, bà kia chết bất đắc kỳ tử để lại gia tài ngàn tỷ… L nghe chuyện, gật gù, thỉnh thoảng chêm vào đôi ba câu. Đội bóng này, cầu thủ nọ thì L còn biết chứ giá vàng giá đô lên xuống kiểu gì thì L chịu! Còn cái bà ngàn tỷ thì L có nghe mọi người kháo nhau ầm ĩ mấy hôm nay, nhưng anh chẳng quan tâm vì có liên quan gì đến mình đâu. Với lại chưa chắc anh đã viết được đủ hết các số 0 cho con số ngàn tỷ, nói gì đến chuyện hình dung nó sẽ mua được những gì. Triệu phú khoe vừa tư vấn nội thất cho một người bạn mới xây nhà. “Ổng hỏi tui: mua tranh gì treo coi cho đẹp? Tui biểu: Ông mua tranh làm chi, treo mấy bức trong nhà coi vài bữa là chán. Ông nghe lời tui đi, mua mấy cái ti vi treo tường, giá mắc hơn chút xíu mà coi không chán!” Triệu phú cười hỉ hả với câu chuyện thông thái của mình, đám bạn bè ồ lên khen ngợi: “Dzô cái coi!”.

Dzô vài lần, chuyện trở nên tưng bừng. Triệu phú bạn cởi bớt mấy cái nút áo nhàu nát và bắt đầu kể câu chuyện đời tui mà chắc hẳn đám bạn bè đã nghe đến hàng trăm lần. Chuyện rằng hồi xưa Triệu phú bạn từng làm nghề thợ bạc, sau chuyển qua buôn vàng miếng,. Mỗi lần đi mua vàng, Triệu phú bạn áo đóng thùng, thắt lưng thật chặt, bỏ vàng trước bụng rồi chạy xe từ An Giang về đến nhà ở chợ huyện này. Buôn vàng giàu rất nhanh, nhưng nguy hiểm, nên Triệu phú bạn chuyển sang nghề cầm đồ. Bây giờ, Triệu phú bạn chính thức được giới làm ăn công nhận là đại gia, nhưng vẫn ở một căn nhà vừa xấu vừa cũ, vừa là chỗ ở, vừa là tiệm cầm đồ. Triệu phú bạn chỉ có một con trai duy nhất, cho nó đi học nước ngoài, nó chẳng ham. Tốt nghiệp đại học xong, mẹ nó kéo về nhà trông coi tiệm. Ngoài những phi vụ làm ăn khác, tiệm cầm đồ của Triệu phú bạn mỗi năm mang về cho gia chủ tệ nhất cũng bốn năm tỷ. Tiền thì nhiều, nhưng Triệu phú bạn chẳng có nhu cầu tiêu xài gì. Nhạc không nghe, phim không xem, không thích ăn diện, không gái gú, cờ bạc. Cả đời, chắc Triệu phú bạn chỉ đi đến Sài Gòn là xa nhất, thỉnh thoảng đi chùa cầu an, cầu tài. Cầu cho giống mọi người thôi chứ có cầu hay không thì mỗi năm cũng cầm chắc vài tỷ rồi, đâu còn gì để cầu thêm. Lâu lâu, các triệu phú rủ nhau đi An Giang, lên núi Cấm chơi sáng đi chiều về là vui rồi. Có điều núi Cấm vừa bị đá rơi chết người nên sắp tới, hội triệu phú chắc phải tìm một nơi khác để đi. Chưa biết đi đâu!

Chơi đến 1 giờ sáng, hai triệu phú chợ huyện và L ngất ngưởng về nhà. Chia tay với Triệu phú bạn, L bò lên phòng ngủ. Triệu phú cũng chân nam đá chân chiêu đi kiểm tra xem vợ có ở nhà không, rồi cười sằng sặc lay vợ dậy “Em ơi, nghe anh kể chuyện này tiếu lâm lắm nè!”.

Vợ L chưa ngủ, có vẻ bực mình xoay mặt vào tường hỏi: “Đi gì mà khuya thế?”. L không trả lời, chỉ cười ngu ngơ. Trước khi chìm vào giấc ngủ mê mệt, L lè nhè hỏi vợ: “Em có thích chồng em là triệu phú không?” Vợ đáp trả: “Để hàng đêm chờ anh đến 1 giờ sáng à? Thôi, ngủ đi!”

Sáng hôm sau, L chỉ nhớ mang máng rằng đêm qua vợ anh đã trả lời không thích có chồng là triệu phú. Gặp vợ từ nhà tắm đi ra với vẻ mặt mệt mỏi vì mất ngủ, L ôm vợ cười hì hì, hỏi lại câu hôm qua: “Em thích có chồng triệu phú không?”. Vợ đẩy L ra, mắng:
- Anh muôn đời không thể là triệu phú được, hỏi câu đó chi vậy? Chứ anh có muốn em là vợ triệu phú không?
- Thì người ta hỏi chơi cho biết. Hìhì. Anh chỉ muốn em là vợ anh thôi!

Nịnh vợ xong, L chợt nghĩ: Hình như mình cũng chẳng thích vợ mình là vợ triệu phú! Nếu vợ mình là vợ triệu phú thì mình là ai trong cuộc đời này nhỉ?