Nếu con chuột cứ lang thang ở ngoài đường, tối vào sân ăn mấy
thứ thức ăn thừa của chó thì sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Đằng này, nó lại mon
men bò vào phòng ngủ của Thị. Đêm đầu tiên, nó theo đường cửa chính bò vào. Nó
sục xạo phía sau dãy tủ và kệ ti vi, tìm được mấy mẩu báo cũ và sung sướng xé
nát để thoả mãn cơn ngứa răng. Sau đó, nó bò vào gầm giường Thị và chơi trò đánh
đu trên các thanh vạt giường. Thị không ngủ được, bật dậy tìm chuột thì nó đã
nhanh chân trốn mất. Quay lại giường, chưa kịp chợp mắt đã nghe nó bò ra sột soạt.
Nhìn sang bên cạnh thấy chồng vẫn ngáy khò khò, đã tức, Thị lại càng thêm tức.
Sáng hôm sau, Thị bảo chồng: “Anh phải đặt bẫy chuột cho
em. Cứ thế này thì em không thể ngủ được!”. Chồng bảo: “Em kéo mấy cái tủ dịch
ra khỏi tường, giường thì che kín xung quanh lại. Chuột vào thấy mọi thứ không
giống như cũ, nó sẽ không vào nữa đâu!”. Thị làm theo. Nhưng đêm hôm sau lại thấy
con chuột bò vào, lại lục sục suốt đêm, lại chơi trò đánh đu ở dưới vạt giường,
dù Thị đã lấy giấy dán xung quanh giường. Nói với chồng, chồng bảo: “Đừng quan
tâm đến nó nữa! Em cứ coi nó như con gián, cứ ngủ bình thường đi!”. Nói thế mà
cũng nói! Nếu Thị ngủ được như chồng thì Thị đã ngáy thật to cho con chuột sợ
mà chạy mất chứ đâu phải hậm hực thế này!
Đêm thứ ba, Thị ôm chăn gối sang ngủ với con, mặc kệ chồng
ngủ một mình. Nửa đêm, đang ngủ, Thị bỗng lại nghe tiếng con chuột rục rịch ở
phòng bên. Giữa đêm thanh vắng, tiếng rục rịch nghe rõ một một, cứ như có ai
thò sợi rơm ngoáy trong lỗ tai. Lần này, Thị quyết tâm đặt bẫy chuột!
Đêm thứ tư, Thị đặt một cái bẫy, trong có miếng cá chiên
thơm phức. Thị thức, nhìn thấy con chuột bò vào bằng đường cửa sổ. Con chuột to
hơn chuột nhắt một tí – Thị đoán nếu so với tuổi người thì nó chừng 10 tuổi. Bệ
cửa sổ chả có vật cản nào mà con chuột vẫn phát ra tiếng động đáng ghét, tựa
như nó đang cười rúc rích, khoái chí vì sắp được tiếp tục trò chơi thú vị. Nó
nghếch nghếch cái mũi lên, đánh hơi thấy trong phòng có mùi thức ăn thơm ngon
và bò rất nhanh đến chỗ cái bẫy. Chuột chui vào bẫy. Phập! Cửa bẫy sập xuống và
nó nằm gọn trong lồng. Thị bật đèn, nhìn thấy con chuột run bần bật, mắt tròn mở
to, sợ hãi. Một cảm giác vừa ghê tởm, vừa thương hại quét nhanh qua tâm trí Thị.
Thị lại ôm chăn gối qua phòng con, vừa nhắm mắt dỗ mình ngủ, vừa cố quên đi cái
hình ảnh khó chịu ban nãy. Trằn trọc mãi, gần sáng Thị mới chợp mắt. Ngủ chưa
được bao lâu thì Thị bị đánh thức bởi tiếng thầm thì của con trai: “Mẹ ơi, mẹ cứ
ngủ tiếp một lúc nữa đi. Hôm nay ba đưa con đi học!” Chưa kịp định thần về
“chuyện lạ” thì hai cha con đã nhanh chóng dắt xe đi mất. Lúc này Thị mới sực tỉnh
và chợt hiểu: Xưa đến giờ, có bao giờ chồng tự nguyện dậy sớm đưa con đi học
đâu, nhưng hôm nay chuyện đó xảy ra vì chồng … sợ phải giải quyết con chuột.
Thị rón rén vào phòng. Con chuột nằm im, nép sát vào một
góc, lấm lét nhìn Thị sợ hãi, miếng mồi thơm ngon vẫn nguyên vẹn, chứng tỏ nó sợ
đến nỗi chẳng dám động vào. Thị cũng sợ hãi không kém khi nghĩ đến chuyện phải
giết con chuột này. Nghe nhiều người chỉ cách tưới xăng lên người nó, rồi cho một
mồi lửa, chỉ 2 phút là xong, Thị rùng mình, sởn gai ốc. Người khác lại bảo tốn
xăng làm gì, dội nước sôi cho gọn. Thị cũng rùng mình! Thị nghĩ, cách nhân đạo
nhất là nhúng cả cái lồng vào xô nước cho nó chết ngạt. Lại rón rén cầm cái lồng
ra sân, hứng đầy một xô nước, Thị lấy hết can đảm nhúng cái lồng vào xô. Con
chuột cuống quýt bò ngược treo người lên phía nóc lồng, run bần bật, ánh mắt cầu
khẩn van lơn. Thị vụt kéo chiếc lồng ra khỏi xô nước, ngồi bệt xuống đất chứng
kiến sự bất lực của mình. Sắp đến giờ đi làm mà vẫn không giải quyết được con
chuột. Nếu cứ để nó trong lồng cho đến cuối giờ chiều, đợi chồng đi làm về giải
quyết thì đó khác nào là hành động kéo
dài sự sợ hãi của con chuột. Thị loay hoay tiến thoái lưỡng nan. Bố chồng Thị ra
sân, nhìn thấy cảnh con dâu loay hoay với con chuột cũng lấy làm bối rối lắm.
Nhìn thấy thế, chẳng lẽ không giúp con dâu, mà giúp nó thì giúp bằng cách nào? Ông theo đạo, tu tại
gia, ăn chay đến nay đã được hơn 40 năm, đến con muỗi ông cũng không nỡ đập, huống
hồ đây lại là cả một con chuột! Suy nghĩ một hồi, ông bảo: “Con chở ba ra ngoài
đường, chỗ bờ sông, ba thả nó đi”. Thị thở phào: “Thôi, thế cũng được!”
Bờ sông cách nhà 500m. Thả chuột xong, hai cha con chở nhau
về. Thôi thì coi như thoát được cái chuyện kinh khủng là phải giết con chuột.
Thị chào ba chồng, quày quả quay lại đi làm. Chưa kịp nổ máy xe thì Thị bỗng
hét lên. Thị vừa nhìn thấy NÓ – con chuột lớn hơn con chuột nhắt, áng chừng cỡ
10 tuổi nếu so với tuổi người – lũm chũm túm lông còn ướt, vừa vọt nhanh qua
cánh cổng, chui tọt vào nhà.
Bố chồng ngẩn người. Thị cũng ngẩn người! Biết chuột là
loài phá hoại, là loài chỉ biết ăn những thứ có sẵn mà chả giúp ích gì cho đời,
là thứ mang bệnh dịch đến cho nhân loại. Biết chính con chuột này đã phá hoại
giấc ngủ của một người vợ hiền, một người mẹ tốt, một phụ nữ năm nào cũng được
cơ quan phát cho tờ giấy chứng nhận “Hai giỏi” kèm theo 200 nghìn. Vậy mà giết
nó đâu phải dễ! Bởi vì cái xấu, cái ác đôi khi được ẩn đằng sau sự bé nhỏ, đáng
thương mà những người hiền lành như Thị, như chồng, như bố chồng của Thị chẳng
có đủ can đảm để loại bỏ nó ra khỏi cuộc đời này.
Thật trớ trêu thay!



